vanban.org

Bản án 83/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2020/HSST
Ngày: 16 -6- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mai

2. Bà Châu Thị Lệ

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2020/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Văn D (tên gọi khác:Toàn), giới tính: Nam, sinh năm 1971 tại tỉnh Vĩnh Long; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 64 đường số A, Phường B, quận G, Tp. H; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Bùi Văn B ( không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị S ( không rõ năm sinh); Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; có 01 con sinh năm 2008; Tiền sự: không; Tiền án: không. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 21/01/2020 (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo : Luật sư Đổng Mây Hồng T – Chi nhánh Văn phòng Luật sư C thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị hại : Ông Nguyễn Đắc D, sinh năm 1974; trú tại: 549/71/29 Lê Văn Thọ , Phường 14, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: : Ông Bùi Văn L, sinh năm 1969; trú tại: Nhà không số, đường N, Phường L, Quận 09, Tp. H (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h30 ngày 21/10/2017, anh Nguyễn Đắc D, sinh năm 1974, HKTT: 549/71/29 L, Phường 14, quận G. Chỗ ở: 212/22 P, Phường 9, quận G rủ Bùi Văn D, Đỗ Thành Thủy cùng 08 thợ hồ và phụ hồ khác đến quán lẩu dê “Anh Ba” thuộc Phường 9, G nhậu. Trong lúc nhậu, anh D trả tiền lương cho mọi người. Khi trả tiền lương cho D thì anh D đưa 2.160.000 đồng/tuần nhưng D không đồng ý mà kêu đưa thêm nửa công là 180.000 đồng. D cự cãi với anh D, sau đó anh D đưa thêm 180.000 đồng cho D. Khi nhận đủ tiền thì D đứng dậy bỏ về. Do công trình gấp, không có thợ làm nên anh D kêu anh Thủy đi cùng đến nhà D để kêu D tiếp tục đi làm. Anh D, Thủy dựng xe cách nhà D khoảng 30 mét và cả hai đi bộ vào trong. Lúc đến trước nhà D cả 02 nhìn thấy D đang nằm trên võng nên đi vào. Lúc này, anh Thủy nói đi ra ngoài xem 02 chiếc xe để ngoài cổng như thế nào nên chỉ có anh D đi vào ngồi trên ghế kế chiếc võng D đang nằm để nói chuyện. D nghĩ anh D đến trả thù nên liền chạy ra phía nhà bếp lấy 01 con dao dài khoảng 30cm chạy lên chém vào chân trái của anh D gây thương tích. Anh Thủy quay vào nhìn thấy nên đến Công an Phường 14, quận Gò Vấp trình báo. Riêng D sau đó không có mặt tại địa phương.

Tại kết luận giám định số 1031/TGT.17 ngày 18/12/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế TP. Hồ Chí Minh kết luận thương tích của anh Nguyễn Đắc D như sau: Vết thương cẳng chân trái gây gãy 1/3 trên xương chày, đã được phẫu thuật kết hợp xương, hiện còn các sẹo:

+ Kích thước 4,5 x 0,2 cm tại trước, dưới gối

+ Kích thước 11,7 x (0,15 - 0,2) cm tại mặt trước cẳng chân trái

+ Hai vết kích thước 1,8 x 0,1 cm mỗ vết tại mắt trong 1/3 dưới cẳng chân trái.

+ Can xương chưa chắc, không ngắn chi.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 23%.

Ngày 13/02/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã khởi tố vụ án, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Bùi Văn D.

Do D đi làm ăn ở xa, không có mặt tại nơi cư trú nên không thực hiện được Lệnh bắt bị can để tạm giam. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, tạm đình chỉ điều tra bị can và truy nã Bùi Văn D. Ngày 21/01/2020, Bùi Văn D về nhà và biết mình bị truy nã nên đến Công an Phường 14, quận Gò Vấp đầu thú.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, Bùi Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

-01 con dao màu đen dài khoảng 32 cm.

Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 121/LNK ngày 11/04/2020 và Phiếu nhập kho vật chứng số 94/PNK ngày 11/04/2020.

Về dân sự: Anh Nguyễn Đắc D yêu cầu D bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Anh Bùi Văn L là anh ruột của D đã thỏa thuận bồi thường cho anh D số tiền 20.000.000 đồng. Anh D đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin bãi nại đối với Bùi Văn D.

Tại bản cáo trạng số 81/Ctr-VKS, ngày 24/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Bùi Văn D về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn D mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao

Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đồng ý tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Việc truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem lại nguyên nhân điều kiện phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi là có một phần lỗi của bị hại, do bị hại có hành vi đe dọa nên bị cáo nghĩ đến việc bị hại đến nhà để đánh bị cáo nên bị cáo nhất thời phạm tội. Mặt khác, Luật sư đưa ra các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại, bị hại đã có đơn bãi nại, bị cáo đã tự nguyện ra cơ quan điều tra đầu thú, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có 01 người con bị bệnh nặng. Bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất là án treo để tạo điều kiện cho bị cáo trở về với gia đình để lao động chăm sóc cho người thân.

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, Luật sư, bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với sơ đồ hiện trường, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1031/TgT.17 ngày 18/12/2017 và Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 1031.B/TgT17-18 ngày 13/4/2018 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của anh Nguyễn Đắc D tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 23%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động mạnh gây ra. Từ những yếu tố trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.

Chỉ vì mâu thuẫn với người bị hại về việc trả tiền lương, khi bị hại đến nhà để hòa giải với bị cáo, bị cáo đã nhầm tưởng bị trả thù nên bộc phát nhất thời đã dùng con dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích vào chân trái của anh D với tỷ lệ 23% nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo về tội “ cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng hành vi phạm tội của bị cáo.

Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo D vì hoàn cảnh gia đình phải đi làm ăn xa một thời gian không có mặt nơi cư trú nên cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, tạm đình chỉ điều tra bị can và ra quyết định truy nã đối với bị cáo D nhưng bị cáo không biết, cho đến khi về thăm nhà bị cáo biết mình bị cơ quan điều tra truy nã nên đã tự nguyện đến Công an Phường 14, quận Gò Vấp để đầu thú.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Chỉ vì mâu thuẩn trong cuộc sống, lẽ ra bị cáo phải có cách cư xử cho đúng phù hợp với lối sống đạo đức xã hội và qui định của pháp luật. Hành vi của bị cáo rất táo bạo và liều lĩnh, qua đó bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật cũng như xem thường tính mạng, sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương và xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của công dân. Do đó, việc xử lý bị cáo Bùi Văn D bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng với quy định của pháp luật, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét một số tình tiết: Bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như D biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, anh trai ruột bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, bị hại đã nhận tiền và có đơn rút yêu cầu khởi tố, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi biết mình bị truy nã bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan công an để đầu thú, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện nay có 01 người con ruột sinh năm 2008 bị bệnh thần kinh trí tuệ mức độ nặng (bệnh đao) có giấy chứng nhận khuyết tật của Uỷ ban nhân dân Phường 14, quận Gò Vấp nên đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét, trong thời gian tạm giữ tạm giam bị cáo từ ngày 21/01/2020 đến nay, thời gian trên cũng đã đủ tác dụng cải tạo, giáo dục để bị cáo nhận thức được lỗi lầm và thấy được hành vi sai trái. Qua đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, nghĩ không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nên áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách lâu dài, tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo sống có ích cho xã hội và lao động để nuôi sống chăm sóc những người thân trong gia đình.

Về trách nhiêm dân sự và xử lý vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại là anh Nguyễn Đắc D vắng mặt. Qua hồ sơ thể hiện, sau khi gây thương tích cho người bị hại, anh L là anh ruột của bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh D số tiền 20.000.000 đồng. Anh D đã nhận đủ tiền và có đơn xin bãi nại rút yêu cầu khởi tố, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Bùi Văn L là anh ruột của bị cáo là người bỏ ra số tiền trên bồi thường cho anh D. Anh L xác định cho luôn bị cáo số tiền trên không yêu cầu trả lại và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao màu đen dài khoảng 32 cm là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Xét, phần trình bày của Luật sư về các tình tiết giảm nhẹ một phần là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Bùi Văn D nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác

Trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao màu đen dài khoảng 32 cm

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 94/PNK ngày 11/4/2020 của Công an quận Gò Vấp

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo, người người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thihành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

( Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)

Cỡ chữ