vanban.org

Bản án 83/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Huế, TP. Huế Tuyên án 19/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan R (Tên gọi khác: Bờm) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025). Tuyên: Xử phạt bị cáo Phan R 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 18/03/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan R - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan R (Tên gọi khác: Bờm) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2026/HS-ST
Ngày: 19-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMp

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thanh Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Vũ Đàm và bà Hồ Thị Thuý Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2

- Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 84/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2026 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 1621/TB-TA ngày 02/6/2026 đối với bị cáo:

Phan R (tên gọi khác: Bờm), sinh ngày: 12/6/1985 tại thành phố Huế; CCCD số: 046085017274; Nơi cư trú: Số 7/104 Nguyễn Phúc T, phường Kim L, thành phố Huế; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan H, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị M (đã chết); Vợ con: Không có.

Nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình, không đi học. Ngày 29/3/2010 có hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư” nên bị Công an thành phố Huế ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 80.000 đồng theo Quyết định số 16271/QĐ ngày 22/4/2010.

Tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 21/8/2025 có hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” bị Công an phường Lxử phạt 4.000.000 đồng theo quyết định số 254/QĐ-XPHC.

Tiền án: Có 03 tiền án:

-Ngày 29/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 100/2022/HS-ST;

-Ngày 13/7/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 201/2023/HS-ST;

-Ngày 28/02/2025, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 7 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 14/2025/HS-ST.

Ngày 15/6/2025 chấp hành xong hình phạt, chưa được xoá án tích thì tiếp tục gây án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/03/2026 cho đến nay; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Phan Thị U, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 02/69 đường Hồ Văn H, phường Kim L, thành phố Huế; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình Huy - Luật sư của Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Huy Thịnh, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Huế; địa chỉ: Số 238C đường Phan Chu TRnh, phường Thuận Hoá, thành phố Huế; Có mặt.

* Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn Nghệ thuật Trúc Chỉ Việt Nam; địa chỉ: Số 52 đường Nguyễn Phúc Nguyên, phường Kim L, thành phố Huế. Đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Đình Bảo Vi; chức danh: Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Phước Nhật, sinh năm 1991; địa chỉ: 3A/2468 đường Nguyễn Hữu Dật, phường Kim L, thành phố Huế; Vắng mặt

* Người làm chứng: Chị Trần Thị N, sinh năm 1996; địa chỉ: Số 82 Nguyễn Văn Đ, phường Thuỷ X, thành phố Huế; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phU ngày 14/11/2025, Phan R đi bộ ngang cửa hàng Trúc Chỉ (52 Nguyễn Phúc Nguyên, phường Kim L, thành phố Huế) thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. R liền đi vào lén lU lấy trộm 01 chiếc nón nghệ thuật rồi đi ra ngoài. Sau khi lấy trộm được tài sản R đi lên hướng chùa Thiên Mụ. Khi đi ngang đình làng X Hòa, phường Kim L, R treo chiếc nón trước cổng đình làng, rồi đi lên chùa Thiên Mụ ngồi uống nước thì bị lực lượng Công an phát hiện.

Tại kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Uỷ ban nhân dân phường Lxác định: 01 chiếc nón nghệ thuật trị giá 1.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 101/KLGĐ ngày 08/01/2026 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung kết luận tình trạng tâm thần của Phan R như sau:

1. Kết luận:

* Trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Rối loạn loạn thần trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu, giai đoạn bệnh thuyên giảm (F10.5 - ICD-10).

b. Kết luận khả năng nhận thức và khả năng điều kH hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều kH hành vi.

* Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 14/11/2025):

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Rối loạn loạn thần trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu, giai đoạn bệnh thuyên giảm (F10.5 - ICD-10).

b. Kết luận khả năng nhận thức và khả năng điều kH hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều kH hành vi.

* Thời điểm hiện tại:

a. Kết luận theo tiêu chuẩn y học: Rối loạn loạn thần trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu, giai đoạn bệnh thuyên giảm (F10.5 - ICD-10).

b. Kết luận khả năng nhận thức và khả năng điều kH hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều kH hành vi.

* Vật chứng thu giữ từ bị cáo Phan R: 01 chiếc nón nghệ thuật màu vàng

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ 01 đĩa DVD chứa file dữ liệu điện tử hình ảnh video clip được trích xuất từ camera tại cửa hàng Trúc Chỉ ghi lại hành vi phạm tội của Phan R vào ngày 14/11/2025.

* Về xử lý vật chứng: Ngày 25/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số A799/QĐ-VPCQCSĐT cho bị hại.

Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSHUE-KV ngày 06 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Huế quyết định truy tố Phan R về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án đối với 01 đĩa DVD chứa file dữ liệu điện tử hình ảnh video clip được trích xuất từ camera tại cửa hàng Trúc Chỉ ghi lại hành vi phạm tội của Phan R vào ngày 14/11/2025.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với bản cáo trạng cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều kH hành vi; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm q khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phan R 03 tháng tù.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với lời bào chữa của người bào chữa: Bị cáo Phan R bị hạn chế khả năng nhận thức và điều kH hành vi là do sử dụng rượu bia, không phải do bị bệnh hoặc do nguyên nhân khách quan khác nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại q khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Về tội danh:

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phU ngày 14/11/2025, tại cửa hàng Trúc Chỉ số 52 Nguyễn Phúc Nguyên, phường Kim L, thành phố Huế; Phan R đã trộm cắp của cửa hàng Trúc Chỉ 01 chiếc nón nghệ thuật trị giá 1.000.000 đồng.

Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 21/8/2025, bị Công an phường Kim L, thành phố Huế xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác” theo quyết định số 254/QĐ-XPHC và đã bị kết án 03 lần về các tội “Cướp giật tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo Phan R đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Huế truy tố bị cáo với tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; xét thấy bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều kH hành vi là do sử dụng rượu bia, không phải do bị bệnh hoặc do nguyên nhân khách quan khác nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ này.

Tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo nhận thức được hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội Cướp giật tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để rèn luyện, sửa chữa mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo như theo đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đĩa DVD chứa file dữ liệu điện tử hình ảnh video clip được trích xuất từ camera tại cửa hàng Trúc Chỉ ghi lại hành vi phạm tội của Phan R vào ngày 14/11/2025 cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan R phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan R (Tên gọi khác: Bờm) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025). Tuyên:

Xử phạt bị cáo Phan R 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 18/03/2026.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa file dữ liệu điện tử hình ảnh video clip được trích xuất từ camera tại cửa hàng Trúc Chỉ ghi lại hành vi phạm tội của Phan R vào ngày 14/11/2025.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phan R phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Huế;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố Huế;

- CA thành phố Huế;

- Phòng HSNV-PV06 Công an thành phố Huế;

- VKSND khu vực 2 - Huế

- Phòng THADS khu vực 2 - Huế

- Bị cáo, bị hại, các đương sự;

- Lưu: HSVA, THA.HS

Dương Thanh Huế

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ