vanban.org

Bản án 83/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần A. T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Trần A. T 01 (mộ) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 10/4/2025. Buộc bị cáo Trần A. T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần A. T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83 /2025/HS-ST
Ngày: 15 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Vạn;

Ông Phạm Văn Tâm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà Mi – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà

– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Trần A. T

Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Ngày sinh: 05/9/1991

Tại: Tỉnh Gia Lai

Nơi thường trú: thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai (nay là xã Chư Sê, tỉnh Gia Lai).

Nơi tạm trú: đường T, khu phố 15, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh).

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tài xế

Học vấn: 12/12.

Cha: Trần Ngọc O

Sinh năm: 1968

Mẹ: Nguyễn Thị T

Sinh năm: 1971

Gia đình có 03 anh em, bị can là con lớn.

Vợ: Nguyễn Thị H

Sinh năm: 1999

Con: Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 28/11/2018, Trần A. T bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 299/2018/HS-ST ngày 28/11/2028. Ngày 25/3/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm xử phạt Trần A. T 02 năm 06 tháng tù theo bản án số 40/2019/HS-PT ngày 25/3/2019. Chấp hành xong án phí sơ thẩm và án phạt tù ngày 04/02/2021.

Ngày 19/12/2013, Trần A. T bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 01 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 775/2013/HS-ST, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Đã chấp hành xong án phí sơ thẩm ngày 06/6/2014.

Ngày 12/7/2016, Trần A. T bị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 03/QĐ-TA ngày 12/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Chấp hành xong ngày 16/6/2017.

Ngày 02/4/2019, Trần A. T bị Công an thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa ra quyết định xử phạt hành chính số 84/QĐ-XPHC về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác” xử phạt 2.500.000 đồng. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện thời điểm Công an Thành phố Nha Trang ra quyết định xử phạt hành chính, Trần A. T đang chấp hành án theo bản án số 40/2019/HS-PT ngày 25/3/2019. Công an Thành phố Nha Trang không tống đạt quyết định xử phạt hành chính cho Trần A. T và nhận định T không có khả năng nộp số tiền phạt do đang thi hành án về tội danh khác đồng thời nộp lưu hồ sơ vụ việc trên. Như vậy, tính theo nguyên tắc có lợi thì đã hết thời hiệu xem xét quyết định xử phạt hành chính nêu trên.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/4/2025 tại Trại tạm giam Chí Hòa.

- Bị hại Võ Hải D (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 31/10/2024, Trần A. T đang làm việc tại bưu cục P, địa chỉ đường H, khu phố 10, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị anh Võ Hải D (sinh năm 1994) trêu ghẹo, hai bên lời qua tiếng lại gây gổ với nhau. T bực tức nên dùng hai tay đánh vào mặt của anh D nhiều cái, vừa lúc đó thì có khoảng 02 đến 03 người vào can ngăn T lại, sau đó D đi vào phòng vệ sinh rửa mặt do bị chảy máu. Sau khi D rửa mặt xong đi ra ngoài thì T đi theo sau lưng D và tiếp tục dùng tay không đánh vào mặt D 02 lần, D phản ứng bằng cách dùng tay không đánh lại T nhưng không trúng dẫn đến D ngã xuống đất, tiếp đó T dùng đầu gối trái đánh vào mặt D 01 cái. Sau khi được mọi người can ngăn thì T bỏ đi. Cùng ngày, anh Võ Hải D đến Công an phường Thạnh Mỹ Lợi (nay là Công an phường Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh) trình báo vụ việc và có đơn yêu cầu giám định thương tích và đề nghị xử lý vụ án hình sự.

Kết luận giám định số 32/2025/KLTTCT-PY ngày 13/3/2025 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của anh Võ Hải D là 14% (BL: 66-69).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Trần A. T đã khai nhận toàn bộ hành vi dùng tay và đầu gối trái đánh gây thương tích cho anh D.

*Vật chứng vụ án:

- 01 đoạn video quay lại hình ảnh T đánh D bên trong bưu cục P.

*Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Hải D yêu cầu Trần A. T bồi thường 60.000.000 đồng, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay T vẫn chưa bồi thường cho anh D (BL 42,43).

Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 14/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh; truy tố Trần A. T về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt: Trần A. T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

 Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

Về trách nhiện dân sự: Bị hại có đơn xin xử vắng mặt, nên đề nghị tách phần phần yêu cầu bồi thường để bị hại khởi kiện vụ án khác khi có yêu cầu;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng; cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản bắt người phạm tội; Lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tang vật chứng thu giữ được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 31/10/2024 tại Bưu cục P, địa chỉ đườngN, khu phố 10, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh), Trần A. T dùng tay và đầu gối trái đánh vào mặt anh Võ Hải D gây thương tích với tỷ lệ là 14%. Hành vi của Trần A. T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự của xã hội nên cần phải có hình phạt tưng xứng với tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên; xét bị hại có phần lỗi kích động, thách thức; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận.

Đối với vật chứng của vụ án: 01 đoạn video quay lại hình ảnh T đánh D bên trong bưu cục P là chứng cứ nên được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiện dân sự: Lời khai trong hồ sơ thể hiện bị hại anh Võ Hải D yêu cầu bồi thường 60.000.000đ (Sáu mươi triệu) tiền chữa trị, tiền mất thu nhập, tổn thất tinh thần nhưng chưa đủ chứng cứ chứng minh và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy; Võ Hải D được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần A. T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt:

Trần A. T 01 (mộ) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 10/4/2025.

2. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần A. T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về trách nhiện dân sự: Anh Võ Hải D được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ