vanban.org

Bản án 83/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 4.250.850 (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn tám trăm năm mươi) đồng. Trả lại cho Phòng Quản lý đô thị Ủy ban nhân dân Quận 8 02 (hai) tấm chắn rác bằng kim loại. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 83 NGUYỄN VĂN M (173) 06.5.2025 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HS-ST
Ngày: 06/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Thục Hiền

2. Bà Trần Thị Ngọc Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Viết Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 10/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2025/QĐXXST-HS ngày 21/42025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/01/1966 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 769/153B Đường H, Phường F, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo sống như vợ chồng với bà Võ Thị Kim A (không đăng ký kết hôn), có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án: Ngày 12/8/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã thi hành xong hình phạt ngày 18/11/2015, chưa thi hành phần án phí và chưa nộp tiền sung công quỹ nhà nước;

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 07/02/1984, bị Công an Quận 8 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”, hình thức xử lý: Cưỡng bức lao động;

+ Ngày 10/12/1984, bị Công an Quận 8 bắt về hành vi “Trốn cưỡng bức lao động”, hình thức xử lý: Cưỡng bức lao động;

+ Ngày 13/4/1985, bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Giả mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội”. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định “Cưỡng bức lao động” 24 tháng theo Quyết định số 4375/QĐ ngày 12/9/1985;

+ Ngày 25/5/1988, bị Công an Quận 8 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Do sổ thụ lý năm 1988 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bị thất lạc nên không có cơ sở xác minh hình thức xử lý đối với Nguyễn Văn M;

+ Ngày 29/9/1995, bị Công an Quận 8 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 36 tháng tù giam theo Bản án số 135/HSST ngày 20/5/1996. Đã thi hành xong.

+ Ngày 29/9/1998, bị Công an huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng bắt về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tốn hại sức khỏe cho người khác”, không xác minh được hình thức xử lý ;

+ Ngày 12/02/2001, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 152/HSST ngày 12/02/2001.

+ Ngày 16/8/2001, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp hình phạt đối với Nguyễn Văn M là 08 năm tù giam theo Bản án 961/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/11/2007;

Bị cáo bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 31/7/2024. (Bị cáo có mặt)

- Bị hại:

1/ Trung tâm quản lý hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ 205 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

2/ Phòng quản lý đô thị Ủy ban nhân dân Quận 8; Địa chỉ: số 04 Dương Quang Đông, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, Nguyễn Văn M điều khiển xe ba gác máy tự chế (là xe của M dùng để nhặt ve chai) đi từ hướng huyện BC về Quận 8 để tìm tài sản của ai sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến khu vực đường P, Phường G, Quận B, M nhìn thấy đường vắng người nên nảy sinh ý định trộm tấm chắn rác bằng kim loại trên đường P để bán lấy tiền. Thực hiện ý định trên, khi đến trước số 659 Đường P, Phường G, Quận B thì M dùng xà beng bằng kim loại dài khoảng 40 cm mang theo để cạy 02 tấm (01 cặp gồm 01 tấm ở trên và 01 tấm ở dưới) chắn rác bằng kim loại rồi để lên xe ba gác tự chế của M và tiếp tục di chuyển theo đường P hướng về Phường B, Quận B. Khi đến ngã ba bên hông Trường Trung học cơ sở LTT, Phường G, Quận B thì M dùng xà beng trên cạy lấy 01 tấm (01 tấm lẻ ở trên) chắn rác bằng kim loại rồi để lên xe ba gác tự chế và tiếp tục đi đến bên hông Trường Trung học cơ sở LTT thì M dùng xà beng trên cạy lấy tiếp 01 tấm (01 tấm lẻ ở trên) chắn rác bằng kim loại. Sau đó, M điều khiển xe ba gác trên đi đến bên hông Viện y tế công cộng (Địa chỉ: 159 Đường P, Phường B, Quận B – Đối diện nhà số 292 Đường P, Phường B, Quận B), dùng xà beng trên cạy lấy tiếp 02 tấm (01 cặp gồm 01 tấm ở trên và 01 tấm ở dưới) chắn rác bằng kim loại để lên xe ba gác rồi đi tiếp đến đối diện Công viên 310 Đường P, Phường B, Quận B tiếp tục dùng xà beng cạy lấy 02 tấm (01 cặp gồm 01 tấm ở trên và 01 tấm ở dưới) chắn rác bằng kim loại để lên xe ba gác. Trong lúc M đang để tấm chắn rác lên xe ba gác thì bị Tổ công tác của Công an Phường B, Quận B phát hiện và nhìn thấy bên trong thùng xe ba gác của M còn có 07 tấm chắn rác bằng kim loại, 01 cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 40 cm nên đưa M cùng vật chứng về trụ sở Công an Phường B, Quận B để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn M khai nhận một mình M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên, không có ai tham gia cùng. Xe ba gác máy do M mua lại của những người nhặt ve chai trước đây bán lại trên đường NVL (không nhớ địa chỉ cụ thể, do M mua đã lâu nên không nhớ rõ giá tiền), xà beng là dụng cụ M sử dụng hằng ngày để cạy đinh sắt bán ve chai khi nhặt được gỗ có gắn đinh rớt trên đường. Đây là lần đầu tiên M trộm cắp tấm chắn rác bằng kim loại nên M cũng chưa biết sẽ mang đi đâu để bán.

Ngày 02/8/2024, Hội đồng định giá tài sản – Ủy ban nhân dân Quận 8, kết luận: 06 tấm chắn rác bằng kim loại của Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh có tổng giá trị tài sản là 4.250.850 đồng và 02 tấm chắn rác bằng kim loại của Phòng Quản lý đô thị Ủy ban nhân dân Quận 8 có tổng giá trị tài sản là 5.519.670 đồng.

Tại cáo trạng 32/CT-VKSQ8 ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của Nguyễn Văn M, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 02 năm – 03 năm tù.

Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo rất hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng.

Quá trình tranh luận, đối đáp đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ áp dụng pháp luật: Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu. Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người liên quan, vật chứng thu giữ trong vụ án cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn M đã có hành vi lén lút lấy 06 tấm chắn rác bằng kim loại của Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và 02 tấm chắn rác bằng kim loại của Phòng Quản lý đô thị Ủy ban nhân dân Quận 8 trên tuyến đường P thuộc địa bàn Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tổng giá trị các tấm chắn rác mà bị cáo chiếm đoạt là 9.725.520 đồng.

Theo đó, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng chỉ vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tội phạm do bị cáo gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, bên cạnh đó bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải xử lý nghiêm, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Hội đồng xét xử xét bị cáo là người không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo thực hiện thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, bên cạnh đó bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích đến nay còn tái phạm là các tình tiết tăng nặng theo quy định điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo hiện đã lớn tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo còn có các con nhỏ phải nuôi dưỡng để áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ giá trị tài sản bị chiếm đoạt, Hội đồng xét xử xét mặc dù toàn bộ 06 tấm chắn rác bằng kim loại của Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hồi lại toàn bộ nhưng theo báo cáo của Trung tâm thì các tấm chắn rác này đã không thể lắp vào như cũ để sử dụng được nữa nên Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị các tấm chắn rác này lại cho trung tâm là 4.250.850 đồng. Bị cáo cũng thừa nhận yêu cầu này là thỏa đáng và đồng ý bồi thường. Hội đồng xét xử xét cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Đối với 06 tấm chắn rác bằng kim loại của Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh xét cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đại diện Phòng Quản lý đô thị Ủy ban nhân dân Quận 8 có yêu cầu nhận lại 02 tấm chắn rác bằng kim loại, Hội đồng xét xử xét yêu cầu này là phù hợp nên hoàn trả lại cho Phòng Quản lý đô thị Ủy ban nhân dân Quận 8 hai tấm chắn rác bằng kim loại.

Đối với 01 xe ba gác tự chế, số máy: IP 50FMG - 320242292, số khung: không rõ và 01 cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 40 cm, Hội đồng xét xử xét là công cụ phương tiện thực hiện tội phạm nên xét cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 4.250.850 (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn tám trăm năm mươi) đồng.

Trả lại cho Phòng Quản lý đô thị Ủy ban nhân dân Quận 8 02 (hai) tấm chắn rác bằng kim loại.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe ba gác tự chế và 01 (một) cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 40 cm.

(theo biên bản giao nhận tang vật ngày….. của chi cục thi hành án dân sự quận 8).

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thanh toán đủ số tiền bồi thường thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 07/5/2025; Bị hại, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ