vanban.org

Bản án 83/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Phương N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Trần Đại T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Phương N được ly hôn với anh Trần Đại T (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2022 do Ủy ban nhân dân xã S huyện S, tỉnh Nghệ An cấp ngày 12/5/2022). Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Hoàng Minh K, sinh ngày 23/9/2021 cho chị Hoàng Thị Phương N trực tiếp nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Phương N và Trần Đại T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Phương N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Trần Đại T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 5 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Cao Trí

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 635/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Phương N, sinh năm 1995; thường trú: Làng Nhan B xã Triệu T huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị; tạm trú: Số 183 khu phố Nhị Đ2, phường D, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Đại T, sinh năm 1993; thường trú: Thôn Tân T xã Bình S huyện Anh S tỉnh Nghệ An; tạm trú: Số 14 đường số 4 KDC và nhà ở công nhân B khu phố Bình Đ4 phường An B thành phố A, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/7/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị Phương N trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Năm 2022 chị Hoàng Thị Phương N và anh Trần Đại T có tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S huyện S tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2022 ngày 12/5/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị N và anh T về sống tại KDC và Nhà ở công nhân B, khu phố Bình Đ4, phường An B, thành phố A tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, vợ chồng đều có công việc làm ổn định nên đủ lo cuộc sống gia đình. Đến cuối năm 2022, tuy cuộc sống gia đình ổn định nhưng giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và ngày càng trở nên trầm trọng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã với nhau. Mặc dù đã cố gắng hòa giải và nỗ lực hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được nên sống ly thân cho đến nay. Nay chị N xác định không còn tình cảm với anh T, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T.

+ Về con chung: Quá trình chung sống, chị Hoàng Thị Phương N và anh Trần Đại T có 01 người con chung tên Trần Hoàng Minh K, sinh ngày 23/9/2021. Chị Hoàng Thị Phương N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoàng Minh K và không yêu cầu anh Trần Đại T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Trần Đại T: Quá trình tố tụng, bị đơn anh Trần Đại T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Trần Đại T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 18/4/2025; tham gia phiên tòa vào ngày 06/5/2025 và ngày 22/5/2025 nhưng anh Trần Đại T vắng mặt không lý do. Đồng thời, anh T cũng không có ý kiến và không có yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An:

+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S huyện S tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2022 ngày 12/5/2022 nên là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn của chị N: Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc chị N xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do tính tình không phù hợp và không còn tiếng nói chung, hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và đã sống ly thân. Bản thân anh T, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh T đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T không có mặt và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai bên đều không muốn hàn gắn tình cảm. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về nuôi con chung: Khi giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoàng Minh K sinh ngày 23/9/2021, anh T vắng mặt và không có bất kỳ ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên để ổn định tâm lý và cuộc sống của cháu Trần Hoàng Minh K cần giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị Phương N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Phương N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Trần Đại T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Phương N được ly hôn với anh Trần Đại T (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2022 do Ủy ban nhân dân xã S huyện S, tỉnh Nghệ An cấp ngày 12/5/2022).

- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Hoàng Minh K, sinh ngày 23/9/2021 cho chị Hoàng Thị Phương N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Phương N không yêu cầu anh Trần Đại T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Hoàng Thị Phương N và anh Trần Đại T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị Phương N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007607 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ/./

Cỡ chữ