- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tô Thị Bích Tr- Đào Danh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Bích T đối với bị đơn anh Đào Danh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST Ngày 29/8/2025 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Cường;
2. Ông Nguyễn Văn Minh.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 318/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Thị Bích T, sinh năm 1990; thường trú: Số H đường H, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số H đường H, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên hệ: Ấp D, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp D, xã C, tỉnh Vĩnh Long). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đào Danh H, sinh năm 1990; thường trú: Số H đường H, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số H đường H, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Tô Thị Bích T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Bích T và anh Đào Danh H sau thời gian tìm hiểu thì tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60 cấp ngày 18/7/2022. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống tại địa chỉ số H đường H, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số H đường H, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh).
Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, hiện hai vợ chống sống ly thân. Nay, chị Tô Thị Bích T xác định không còn tình cảm với anh Đào Danh Hùng nên đề nghị được ly hôn với anh H
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Đào Tô A, sinh ngày 24/01/2023. Sau khi ly hôn, chị Tô Thị Bích T yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Tô A và không yêu cầu anh Đào Danh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Tô Thị Bích T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Đào Danh Hùng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 08/8/2025; tham gia phiên tòa vào các ngày 25/8/2025 và ngày 29/8/2025 nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn chị T và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Tô Thị Bích T và anh Đào Danh Hùng do Tòa án tiến hành ngày 09/6/2025, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau: Chị T và anh H trước khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án chị T không yêu cầu chính quyền địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ vì không thấy đại diện khu phố hay địa phương phản ánh hay cung cấp thông tin gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn được triệu tập 02 lần tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân giữa nguyên đơn chị Tô Thị Bích T và bị đơn anh Đào Danh H có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nguyên đơn chị T yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung là có cơ sở chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Tô Thị Bích T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đào Danh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 25/8/2025 và ngày 29/8/2025 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2022, chị Tô Thị Bích T và anh Đào D tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60 cấp ngày 18/7/2022 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Nguyên đơn xác định chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cải vã, hiện hai vợ chồng sống ly thân. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập bị đơn anh H đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H không có mặt. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chị T và anh H. Do, đó nguyên đơn chị Tô Thị Bích T yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Đào Danh H là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Tòa án chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Tô Thị Bích T và anh Đào Danh H có 01 con chung tên Đào Tô A, sinh ngày 24/01/2023. Sau ly hôn, chị T yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Tô A. Chị T không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng, mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về việc nuôi dưỡng con chung cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối gì. Xét thấy, cháu A đang còn nhỏ, hiện đang sống với chị T, đồng thời nguyên đơn chị T có nơi ở và công việc ổn định nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung cho nguyên đơn chị T trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. [2.3] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tô Thị Bích T không yêu cầu anh Đào Danh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chị T.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ cở chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
[4] Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với tổng số tiền 4.785.000 đồng, nguyên đơn chị Tô Thị Bích T phải chịu được khấu vào số tiền tạm ứng đã nộp, theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Tô Thị Bích T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Bích T đối với bị đơn anh Đào Danh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Bích T được ly hôn với anh Đào Danh H {Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60 do Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 18/7/2022}.
Về con chung: Giao con chung tên Đào Tô A, sinh ngày 24/01/2023 cho chị Tô Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Tô Thị Bích T không yêu cầu anh Đào Danh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn chị Tô Thị Bích T và anh Đào Danh H có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Chị Tô Thị Bích T phải tạo điều kiện cho anh Đào Danh Hùng trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
3. Chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn chị Tô Thị Bích T phải chịu 4.785.000 đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tô Thị Bích T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0008469 ngày 02/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H).
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |