vanban.org

Bản án 83/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân: Không công nhận Ông Phan Văn Ổ và bà Lê Thị Mộng T là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Phan Văn Ổ ly hôn với bà Lê Thị Mộng T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/5/2025
V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Hiệp

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số 475/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 116/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn Ổ, sinh năm 1978 (Có Đơn xin vắng mặt)

Cư trú: Tổ E, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Mộng T, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Cư trú: Tổ E, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 29/11/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – Ông Phan Văn Ổ trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Lê Thị Mộng T1 do quen biết với nhau tiến tới hôn nhân và chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do bà T cờ bạc gây ra nợ, nhiều lần xảy ra mâu thuẩn cự cãi nhau thường xuyên, vợ chồng không thống nhất ý kiến với nhau, bà T đã bỏ đi 12 năm nay không về, cả hai ly thân nhau từ đó đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Mộng T.

- Về con chung: có 01 con chung tên Phan Thành N, sinh ngày 12/5/2000. Hiện cháu N đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – Bà Lê Thị Mộng T: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Ổ.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Ổ và bà T; Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Thành N, sinh ngày 12/5/2000 hiện đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm: Ông Ổ phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phan Văn Ổ có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Mộng T, do vậy xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Lê Thị Mộng T có nơi cư trú tại tổ E, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn – Ông Phan Văn Ổ vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên ông đã có Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/4/2025 phù hợp theo quy định pháp luật nên được chấp nhận; Bị đơn là bà Lê Thị Mộng T đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Ổ và bà T.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân:

Theo lời trình bày của ông Ổ, ông và bà T chung sống với nhau từ năm 2000, hôn nhân do quen biết nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống giữa ông Ổ và bà T xảy ra mâu thuẫn không thể khắc phục, theo ông Ổ nguyên nhân do bà T cờ bạc gây ra nợ, nhiều lần xảy ra mâu thuẩn cự cãi nhau thường xuyên, sau đó bà T đã bỏ đi 12 năm nay không về, cả hai ly thân nhau từ đó đến nay, trong thời gian ly thân ông bà không hàn gắn được tình cảm.... Nay ông yêu cầu ly hôn với bà T.

Theo văn bản số 275/UBND -XNTTHN ngày 29/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã V về xác nhận tình trạng hôn nhân nội dung thể hiện ông Phan Văn Ổ chưa đăng ký kết hôn với ai; Theo Công văn số 15/UBND ngày 20/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã V gửi Toà án về việc cung cấp thông tin kết hôn của ông Ổ và bà T thể hiện: Qua kết quả tra cứu thông tin sổ lưu hộ tịch về đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V từ sau năm 1975 cho đến nay không có thông tin cá nhân của ông Ổ và bà T.

Từ những nêu trên, xác định ông Ổ và bà T chung sống như vợ chồng từ năm 2000 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, trong trường hợp nam nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng. Nay ông Ổ yêu cầu Tòa án giải quyết ông được ly hôn với bà T, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định“Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”, hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận ông Phan Văn Ổ và bà Lê Thị Mộng T là vợ chồng.

2.2 Về con chung: Giữa ông Ổ và bà T có 01 con chung tên Phan Thành N, sinh ngày 12/5/2000 đã trưởng thành, ông Ổ không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó không đặt ra xem xét.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Ông Ổ trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm:

Ông Phan Văn Ổ là nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Ông Ổ và bà T có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 14; Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về hôn nhân: Không công nhận Ông Phan Văn Ổ và bà Lê Thị Mộng T là vợ chồng.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Phan Văn Ổ phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007910 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Quyền kháng cáo:

Ông Phan Văn Ổ và bà Lê Thị Mộng T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ