- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng OCB - Thơ tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với bà Nguyễn Thị T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 83/2025/DS-ST Ngày 25-8-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 169/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P; trụ sở: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tòa nhà T, số A T, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Thế T; địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Tầng B, Tòa nhà T, số A T, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 12/3/2025). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976; thường trú: Số C, tổ I, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số C, tổ I, khu phố C, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (viết tắt là Ngân hàng O) trình bày: Ngày 30/12/2021, Ngân hàng O và bà Nguyễn Thị T1 ký kết hợp đồng tín dụng theo Đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Com-B số: SLFPRM0001077651, số tiền vay 53.750.000 đồng, mục đích vay: mua hàng hóa, dịch vụ; thời hạn vay 36 kỳ, lãi suất cho vay 39%/năm; lãi suất trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất vay; lãi suất trên lãi chậm trả 10%/năm. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng O giải ngân toàn bộ số tiền vay cho bà T1 theo đúng nội dung hợp đồng đã ký kết. Quá trình thực hiện hợp đồng bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong hợp đồng mà các bên đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng O khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho Ngân hàng O tổng số tiền tính đến ngày 25/8/2025 là 101.223.448 đồng. Trong đó, nợ gốc là 42.037.447 đồng, lãi trong hạn là 19.044.986 đồng, lãi quá hạn là 40.141.015 đồng. Bà T1 phải tiếp tục thanh toán tiền lãi kể từ ngày 26/8/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà T1 đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người tham gia tố tụng, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng O khởi kiện bà Nguyễn Thị T1 có địa chỉ cư trú tại số C, tổ I, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số C, tổ I, khu phố C, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) phải trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết tính đến ngày 25/8/2025 là 101.223.448 đồng. Do đó, Tòa án xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị T1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Ngày 30/12/2021, Ngân hàng O và bà T1 ký kết hợp đồng tín dụng theo Đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Com-B số: SLFPRM0001077651, số tiền vay 53.750.000 đồng, mục đích vay: mua hàng hóa, dịch vụ; thời hạn vay 36 kỳ, lãi suất cho vay 39%/năm; lãi suất trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất vay; lãi suất trên lãi chậm trả 10%/năm. Tính đến ngày 25/8/2025, bà T1 còn nợ Ngân hàng O số tiền 101.223.448 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 42.037.447 đồng, lãi trong hạn là 19.044.986 đồng, lãi quá hạn là 40.141.015 đồng. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng O khởi kiện buộc bà T1 phải thanh toán nợ.
Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 30/12/2021, Ngân hàng O với bà T1 đã ký kết hợp đồng tín dụng theo Đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng C-B số: SLFPRM0001077651, thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Thực hiện hợp đồng Ngân hàng O đã giải ngân cho bà T1 theo hạn mức thẻ tín dụng đã cấp. Bà T1 phải trả tiền gốc và lãi hàng tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng O đã nhiều lần liên lạc để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nhưng bà T1 không thực hiện. Vì vậy, Ngân hàng O yêu cầu bà T1 phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ phát sinh theo Đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Com-B số: SLFPRM0001077651 ngày 30/12/2021 với số tiền tính đến ngày 25/8/2025 là 101.223.448 đồng (trong đó, nợ gốc là 42.037.447 đồng, lãi trong hạn là 19.044.986 đồng, lãi quá hạn là 40.141.015 đồng) và tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 26/8/2025 trở đi là có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 144, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với bà Nguyễn Thị T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc bà Nguyễn Thị T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P tổng số tiền nợ tính đến ngày 25/8/2025 là 101.223.448đ (một trăm linh một triệu hai trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó: Nợ gốc là 42.037.447đ (bốn mươi hai triệu không trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm bốn mươi bảy đồng), lãi trong hạn là 19.044.986đ (mười chín triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 40.141.015đ (bốn mươi triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn không trăm mười lăm đồng).
- Tiền lãi kể từ ngày 26/8/2025 trở đi được tiếp tục tính theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng theo Đề nghị vay vốn kiêm thỏa thuận cho vay và đề nghị phát hành kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Com-B số: SLFPRM0001077651 ngày 30/12/2021 cho đến khi bà T1 trả xong các khoản nợ.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu số tiền 5.061.172đ (năm triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm bảy mươi hai đồng).
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền 2.229.326đ (hai triệu hai trăm hai mươi chín nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008024 ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh). 3. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16; - Phòng THADS khu vực 16; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |