- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn Đỗ Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2025/DS-PT Ngày: 24 - 6 - 2025 V/v: Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy, ông Phạm Anh Tuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 33/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”; do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Đỗ Thị H.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Đỗ Thị H trình bày: Chiều tối ngày 15/3/2024, chị H và chị Nguyễn Thị T (vợ anh V) có bán hàng tại khu vực gần cầu L, lối rẽ về huyện T thuộc địa phận xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Do có khách đến mua hàng trong khi giữa chị và khách hàng đang trao đổi việc mua bán hàng thì chị T lại níu khách để khách sang hàng khác mua, việc làm của chị T gây bức xúc cho chị H nên hai bên lời qua tiếng lại cãi chửi nhau; chị T đã gọi điện cho anh V cùng gia đình đến. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, anh V đến chỗ chị H bán hàng và đã dùng mũ bảo hiểm đánh vào đầu chị H nhiều lần làm vỡ cả mũ bảo hiểm của anh V. Sau đó, anh V tiếp tục túm cổ, vai đẩy chị H ngã nhiều lần, 03 ngày sau, chị H đã phải nhập viện điều trị. Ngày 19/3/2024 chị H có đơn gửi Công an xã H, ngày 12/6/2024 Công an xã H đã xử phạt vi phạm hành chính đối với anh V. Chị H khởi kiện yêu cầu anh V phải bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 50 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định; chi phí cứu chữa tại bệnh viện 05 ngày = 754.252 đồng; chi phí bị mất thu nhập của người chăm sóc 300.000đ/ngày x 05 ngày; mất thu nhập thực tế 12 ngày không đi buôn bán được và tiền thuê mặt bằng tại chợ N. Tổng số tiền chị yêu cầu bồi thường là 30.000.000đ.
2. Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ, bị đơn Lê Văn V trình bày: Ngày 15/3/2024 tại chân cầu L thuộc địa phận xã H anh V và chị H có xảy ra va chạm, xô xát nhau, anh V có dùng tay đấm đánh chị H, chị H đã có đơn trình báo công an xã H, Công an xã H đã trưng cầu giám định thương tích, kết luận tỷ lệ tổn thương 0%. Chị H có đến bệnh viện Đ điều trị khoảng 01 tuần, anh V đã bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính, phạt số tiền 7.000.000đ. Nay chị H khởi kiện yêu cầu anh bồi thường, anh chấp nhận bồi thường các khoản chi phí có chứng từ hóa đơn của Bệnh viện, còn các khoản khác anh không chấp nhận. Tại phiên họp công khai chứng cứ và tại phiên tòa, anh V tự nguyện bồi thường cho chị H số tiền 5.000.000đ.
3. Lời khai của người làm chứng:
3.1. Anh Vũ Văn T1 (chồng chị H) trình bày: Sau khi bị anh V đánh, chị H đã phải nhập viện từ ngày 19 đến ngày 23 tháng 3 năm 2024. Trong thời gian chị H điều trị tại bệnh viện, anh T1 phải nghỉ việc để chăm sóc chị H, thu nhập của anh T1 bị mất trong thời gian chăm sóc chị H tại bệnh viện từ 500.000đ đến 700.000đ/ngày.
3.2. Chị Nguyễn Thị T (vợ anh V) trình bày: Khoảng 19 giờ ngày 15/3/2024, chị H chắn ô che xuống đường, gây cản trở việc chị T bán hàng, chị T đã nhắc nhở nhưng chị H vẫn tiếp tục làm, anh V đi làm về có nói chuyện với chị H nhưng chị H nói năng khó nghe, chỉ tay vào mặt anh V, trong lúc nóng giận anh V đã dùng tay đẩy và tát chị H. Chị T đề nghị Tòa án xem xét giải quyết thỏa đáng giúp hai bên.
4. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 11/4/2025, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị H. Buộc anh V bồi thường một phần các chi phí điều trị, bồi dưỡng sức khỏe, chi phí đi lại, thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường các khoản thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc và khoản yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần. Ghi nhận sự tự nguyện của anh V bồi thường cho chị H tổng số tiền 5.000.000đ. Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 25/4/2025 nguyên đơn Đỗ Thị H kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Ngoài ra chị H còn bổ sung yêu cầu anh V bồi thường thu nhập bị mất trong 15 ngày và chi phi đi lại trong thời gian làm việc với cơ quan công an và Tòa án để giải quyết vụ việc.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác cho bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm. Miễn án phí phúc thẩm cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Về nội dung: Lời khai của nguyên đơn, bị đơn và những người làm chứng đều xác định ngày 15/3/2024 anh V có hành vi đánh, xâm phạm sức khỏe chị H. Tài liệu, chứng cứ do chị H xuất trình xác định thực tế chị H đã phải đi điều trị 05 ngày (từ ngày 18/3/2024 đến ngày 22/3/2024) tại Bệnh viện đa khoa huyện Đ. Cấp sơ thẩm buộc anh V phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho chị H là phù hợp quy định tại Điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể:
Chi phí điều trị theo hóa đơn hợp lệ có bảng kê chi phí nội trú của Bệnh viện đa khoa huyện Đ, tổng số tiền viện phí 1.683.260đ (BL05), chị H yêu cầu anh V phải bồi thường toàn bộ. Xét thấy, sau khi đã trừ bảo hiểm, chị H phải thanh toán số tiền là 755.000 đồng (làm tròn) (BL 04) đây là chi phí thực tế nên anh V phải có trách nhiệm bồi thường số tiền này. Số tiền còn lại do cơ quan bảo hiểm chi trả, nếu sau này Cơ quan bảo hiểm có yêu cầu đối với anh V sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác; đối với hóa đơn bán hàng ngày 23/5/2024 của Trung tâm P (BL52), chị H chụp CT sọ não số tiền 960.000đ, thời gian chụp sau khi ra viện, không theo chỉ định của bác sĩ nên cấp sơ thẩm không chấp nhận đây là chi phí cho việc cứu chữa là phù hợp.
Chi phí bồi dưỡng sức khỏe theo quy định 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám chữa bệnh là 3.860.000đ/26 ngày = 149.000đ (làm tròn số) x 05 ngày điều trị = 742.000đồng (làm tròn).
Chi phí thuê xe đi lại trong quá trình khám chữa bệnh: Mặc dù chị H không xuất trình được hóa đơn chi phí đi lại nhưng lộ trình đi lại được xác định đi từ xã H (vị trí bị đánh) về nhà xã C. Ngày 18/3/2024 từ xã C đến Bệnh viện đa khoa huyện Đ, ngày 22/3/2024 (ngày ra viện) từ Bệnh viện Đ về xã C, đây là chi phí thực tế, cấp sơ thẩm chấp nhận số tiền là 200.000 đồng là phù hợp.
Về thu nhập thực tế bị mất: Chị H làm nghề buôn bán có thuê kiốt tại chợ N (có phiếu thu BL09,10). Sau khi bị đánh 03 ngày nghỉ tại nhà và 05 ngày điều trị tại Bệnh viện không buôn bán được. Cấp sơ thẩm chấp nhận khoản thu nhập 08 ngày thu nhập bị mất là 300.000đ/ngày x 8 = 2.400.000đ, không chấp nhận 12 ngày thu nhập bị mất theo yêu cầu của chị H là phù hợp.
Về thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc: Thực tế chị H bị thương tích phần mềm, trong thời gian điều trị vẫn tự chủ sinh hoạt được, cấp sơ thẩm không chấp nhận khoản yêu cầu bồi thường khoản thu nhập bị mất của người chăm sóc chị H là phù hợp.
Tổng các khoản tiền xác định thiệt hại của chị H như trên là 4.097.000đồng. Cấp sơ thẩm đã chấp nhận sự tự nguyện của anh V về việc bồi thường cho chị H số tiền 5.000.000đồng là phù hợp, đảm bảo được quyền lợi của cả chị H. Tại phiên tòa phúc thẩm chị H yêu cầu khoản bồi thường chi phí mất thu nhập và chi phí đi lại để làm việc với cơ quan công an và Tòa án để giải quyết vụ việc. Chi phí này là chi phí thực tế nhưng không phải là thiệt hại trực tiếp từ hành vi gây thiệt hại về sức khỏe của anh V nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xác định toàn bộ kháng cáo của chị H không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Chị H kháng cáo không được chấp nhận nhưng là người yêu cầu bồi thường về sức khỏe nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chế độ án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn Đỗ Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
2. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho chị Đỗ Thị H.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - TAND huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Lưu: HS, THS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Hữu Hiệu |