- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: ông Huỳnh Bá C, sinh năm 1974 và bà Kiều Thị Thu H, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H về việc yêu cầu tuyên bố hành vi không lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với vợ chồng ông bà tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121, diện …
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 196 Luật Tố tụng hành chính; Điều 206 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2024/HC-PT Ngày: 26 - 3 - 2024 V/v “Khiếu kiện tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Văn Tiến
ông Vũ Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Ngọc Gia Linh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Phước Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 315/2023/TLPT-HC ngày 17 tháng 11 năm 2023 V/v “Khiếu kiện tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 28/2023/HC-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 382/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: ông Huỳnh Bá C, sinh năm 1974 và bà Kiều Thị Thu H, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.
2. Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ; địa chỉ: số E Q, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Kim H1, chức vụ - Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ, có Đơn xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Văn Tiến D, chức vụ - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ tại quận N, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đ; địa chỉ: số B T, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng S, chức vụ - Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, có Đơn xét xử vắng mặt.
3.2. Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số D L, quận N, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Mai N, chức vụ - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Đà Nẵng, có Đơn xét xử vắng mặt.
3.3. Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng Hạ tầng và Phát triển đô thị thành phố Đ; địa chỉ: tầng E, số D V, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Lâm Thùy K - Chuyên viên phòng Kế hoạch, có mặt tại phiên toà.
Người kháng cáo: ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại Đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện trình bày:
Gia đình ông C, bà H sử dụng ổn định lâu dài nhà và đất có diện tích 648,6m2 tại thửa số 499, tờ bản đồ 121. Theo quy định pháp luật đất đai thì gia đình ông bà đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Tuy nhiên, khi ông C, bà H thực hiện làm các thủ tục để được cấp GCNQSDĐ thì Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận N, thành phố Đà Nẵng không thực hiện và có Văn bản số 1234/CNNHS ngày 12 tháng 10 năm 2021 “về việc cấp lần đầu GCN” với nội dung căn cứ khoản 6 Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, quy định các trường hợp không cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: “Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”. Trường hợp của Ông (Bà) không thể lập thủ tục cấp GCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất được. Với nội dung trả lời như trên, ông C, bà H hoàn toàn không đồng ý.
Nay yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi không làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho vợ chồng ông Huỳnh Bá C, bà Kiều Thị Thu H tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121, diện tích 648,6m2 tại tổ B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng là trái pháp luật.
2. Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là bà Trần Thị Kim H1 trình bày:
Về nguồn gốc đất, sử dụng đất và quá trình giải quyết hồ sơ:
Ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận lần đầu cho thửa đất số 499, tờ bản đồ số 21, diện tích đất 648.6m2 tại tổ B, phường H, quận N đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận N (Chi nhánh N1).
Qua kiểm tra thông tin lưu trữ tại đơn vị, thửa đất của ông C, bà H bị ảnh hưởng quy hoạch Tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư B theo Quyết định số 1329/QĐ-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2014 và đã có Thông báo thu hồi đất số 105/TB-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2014 của UBND thành phố Đ. Một phần diện tích thuộc dự án Mở rộng Khu đô thị biệt thự sinh thái, Công viên văn hóa L quê và quần thể du lịch sông nước theo Quyết định số 4054/QĐ-UBND ngày 20 tháng 6 năm 2014 đã được đo đạc quy chủ thửa 60, tờ 121, diện tích 328m2. Dự án Mở rộng Khu đô thị biệt thự sinh thái, Công viên văn hóa L quê và quần thể du lịch sông nước đã có Thông báo thu hồi đất số 203/TB-UBND ngày 07 tháng 12 năm 2013 của UBND thành phố Đ về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án mở rộng Khu đô thị biệt thự sinh thái, Công viên văn hóa L quê và quần thể du lịch sông nước.
Về trình tự, thủ tục đăng ký đất đai và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận lần đầu: thửa đất của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận, nên thuộc thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận lần đầu. Căn cứ theo quy định tại điểm 4 khoản 2 Quyết định số 29/2018/QĐ-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2018 của UBND thành phố về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định quản lý Nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ban hành kèm theo Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2014 của UBND thành phố thì việc xem xét, giải quyết cấp giấy chứng nhận lần đầu thuộc thẩm quyền của UBND quận N.
Từ các cơ sở nêu trên, Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ xét thấy: việc ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H khởi kiện nội dung “Khiếu kiện yêu cầu tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật” đối với Văn phòng Đ là không có cơ sở và không đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định.
3. Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Lâm Thùy K trình bày:
Dự án Khu tái định cư B được Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt tổng mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết Tỷ lệ 1/500 tại Quyết định số 1329/QĐ-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2014 với tổng diện tích đất quy hoạch là 482.240m2.
Ngày 02 tháng 3 năm 2016 UBND thành phố ban hành Thông báo số 34/TB-VP về kết luận của Chủ tịch UBND thành phố tại cuộc họp nghe Báo cáo về dự án Khu tái định cư B. Theo đó, đồng ý chủ trương triển khai đầu tư dự án HTKT Khu tái định cư B (giai đoạn 1). Giao Ban QLDA Xây dựng số 3 phối hợp với Viện Quy hoạch Xây dựng Đ lập các hồ sơ, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản trình thẩm định, phê duyệt theo quy định để triển khai dự án. Ngày 29 tháng 10 năm 2016 Chủ tịch UBND thành phố đã phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình HTKT Khu tái định cư B - giai đoạn 1 (Vệt 02 bên đường V) tại Quyết định số 7416/QĐ-UBND. Theo đó, Ban Quản lý được giao nhiệm vụ là Chủ đầu tư kiêm quản lý dự án này.
Thực hiện chủ trương của UBND thành phố tại Thông báo số 34/TB-VP ngày 02 tháng 3 năm 2016, Ban Quản lý đã tổ chức triển khai đầu tư, thi công đối với giai đoạn 1 của dự án HTKT Khu tái định cư B. Ban Q đã đề nghị UBND quận N, Trung tâm phát triển quỹ đất (nay là Ban Giải phóng mặt bằng quận N) thực hiện công tác giải tòa đền bù và bàn giao mặt bằng để thi công công trình. Trên cơ sở mặt bằng đã giải tỏa do Trung tâm phát triển quỹ đất bàn giao, Ban Quản lý đã triển khai thi công các hạng mục công trình theo hồ sơ thiết kế đã được duyệt. Dự án HTKT Khu tái định cư B - giai đoạn 1 (Vệt 02 bên đường V) đã được triển khai thi công từ tháng 10 năm 2017. Đến nay, công trình đã được thi công hoàn thành tại các khu vực có mặt bằng, đang dừng thi công do vướng giải tỏa (dự án còn vướng giải tỏa 38 hồ sơ); giá trị xây lắp đạt 80% giá trị hợp đồng. Ban Quản lý sẽ tiếp tục triển khai thi công các hạng mục công trình theo hồ sơ thiết kế đã được duyệt khi được bàn giao mặt bằng
Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Trung tâm đo đạc bản đồ Đà Nẵng lập năm 2013, thửa đất số 72, tờ bản đồ số 121 có tổng diện tích là 310,7m2, hiện trạng sử dụng là đất trồng cây lâu năm, chủ sử dụng là UBND phường H - Hộ sản xuất là ông Huỳnh Bá C. Theo bản đồ địa chính phục vụ giải phóng mặt bằng dự án Khu tái định cư B điều chỉnh quy hoạch theo Quyết định số 1329/QĐ-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2014, thửa đất số 72, tờ bản đồ số 121 có tổng diện tích là 310,7m2, thuộc phạm vi của dự án HTKT Khu tái định cư B - giai đoạn 2.
Hiện nay, các đơn vị liên quan đang lập hồ sơ điều chỉnh cục bộ quy hoạch Khu T và khái toán kinh phí xây dựng Khu tái định cư B (giai đoạn 2), chưa thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng tại khu vực này. Theo Quyết định số 1512/QĐ-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2023, UBND thành phố có bố trí vốn để UBND quận N thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư đối với dự án HTKT Khu tái định cư B (giai đoạn 2). Với nội dung nêu trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 28/2023/HC-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 196; Điều 206 và Điều 213 của Luật Tố tụng hành chính. Luật Đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H về việc yêu cầu tuyên bố hành vi không lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với vợ chồng ông bà tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121, diện tích 648,6m2 tại tổ B phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng là trái pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Huỳnh Bá C trình bày giữ nguyên Đơn khởi kiện, Đơn kháng cáo. Nếu đất của dự án này chồng lấn lên đất của tôi thì nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của gia đình chúng tôi. Vì vậy, tôi mong muốn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông D trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà K trình bày:đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án theo trình tự phúc thẩm đến trước nghị án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính. Kháng cáo của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H là trong thời hạn luật định.
Về nội dung vụ án: diện tích đất mà ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H xin cấp GCNQSDĐ đã có quyết định quy hoạch chi tiết Tỷ lệ 1/500 dự án Khu tái định cư B và có Thông báo thu hồi đất. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H là đúng pháp luật. Ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh kháng cáo của mình là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, bác kháng cáo của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Sau khi nghe đương sự trình bày, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; sau khi thảo luận, nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng:
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H kháng cáo Bản án hành chính sơ thẩm số 28/2023/HC-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Như vậy, kháng cáo của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện:
Ngày 05 tháng 7 năm 2022 ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H làm Đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121, diện tích 648,6m2 tại tổ B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022 ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng giải quyết: tuyên bố hành vi không lập thủ tục cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với vợ chồng ông tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121, diện tích 648,6m2 tại tổ B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng là trái pháp luật.
Như vậy, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 30; Điều 32; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Xét kháng cáo của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H:
Tại Văn bản số 1234/CNNHS ngày 12 tháng 10 năm 2021 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ-Chi nhánh N1 xác nhận: thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121, diện tích 648,6m2 tại tổ B, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng bị ảnh hưởng quy hoạch chi tiết Tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư B theo Quyết định số 1329/QĐ-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2014 của Chủ tịch UBND thành phố Đ.
Quyết định số 1329/QĐ-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2014 Chủ tịch UBND thành phố Đ phê duyệt tổng mặt bằng điều chỉnh quy hoạch chi tiết Tỷ lệ 1/500 là 482.240m2/602 hồ sơ tại dự án Khu tái định cư B và được chia làm 3 khu: khu A 288 hồ sơ; khu B 195 hồ sơ; khu C 122 hồ sơ. Ngày 02 tháng 3 năm 2016 UBND thành phố Đ ban hành Thông báo số 34/TB-VP về Kết luận của Chủ tịch UBND thành phố về dự án Khu tái định cư B.
Các cơ quan hữu quan của thành phố có thẩm quyền đã triển khai thực hiện theo nhiệm vụ. Ngày 29 tháng 10 năm 2016 Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 7416/QĐ-UBND phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình HTKT Khu tái định cư B giai đoạn 1 (vệt 02 bên đường V). Ban quản lý được giao nhiệm vụ là Chủ đầu tư kiêm quản lý dự án và đã tiến hành thi công từ tháng 10 năm 2017 giai đoạn 1 (vệt 02 bên đường V). Tuy nhiên, công trình dự án có 38 hồ sơ còn vướng giải toả.
Bản đồ địa chính phục vụ giải phóng mặt bằng thì thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121 của ông Huỳnh Bá C, bà Kiều Thị Thu H bị ảnh hưởng quy hoạch chi tiết Tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư B điều chỉnh quy hoạch theo Quyết định số 1329/QĐ-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2014 của Chủ tịch UBND thành phố Đ. Trong đó, một phần diện tích đất là 310,7m2 tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 121 đã có Thông báo thu hồi đất số 105/TB-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2014 của UBND thành phố Đ và một phần diện tích đất là 328m2 tại thửa đất số 60, tờ bản đồ số 121 đã có Thông báo thu hồi đất số 203/TB-UBND ngày 07 tháng 12 năm 2013 của UBND thành phố Đ (thực hiện dự án mở rộng Khu đô thị B sinh thái, công viên văn hóa L quê và quần thể du lịch).
Khoản 6 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều thi hành Luật Đất đai quy định các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trong đó có trường hợp: “Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”.
Tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, các đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Với nội dung đã được phân tích tại mục [1], [2], [3] nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng: bản án sơ thẩm đã quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H là có căn cứ, đúng pháp luật. Bác kháng cáo của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Án phí hành chính phúc thẩm: ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính. Bác kháng cáo của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 196; Điều 206 và Điều 213 của Luật Tố tụng hành chính. Luật Đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H về việc yêu cầu tuyên bố hành vi không lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với vợ chồng ông bà tại thửa đất số 499, tờ bản đồ số 121, diện tích 648,6m2 tại tổ B phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng là trái pháp luật.
3. Án phí hành chính phúc thẩm: ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H phải chịu 300.000đ, được trừ vào số tiền ông Huỳnh Bá C và bà Kiều Thị Thu H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009857 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
. Thành viên Hội đồng xét xử
| (Đã ký) Vũ Thanh Liêm Nguyễn Văn Tiến | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Quốc Cường |