- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 trả cho Ngân hàng tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/4/2024…"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng C. Buộc ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 trả cho Ngân hàng C số tiền 43.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2024/DS-ST Ngày 25-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Luân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Sim.
Ông Trần Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 569/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C
Địa chỉ: Số A, Phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật ông Dương Quyết T – Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền ông Đỗ Phi L – Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C (có mặt).
Theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19 tháng 9 năm 2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C và giấy ủy quyền số 189/UQ-PGD ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C.
- Bị đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm 1959 (vắng mặt).
Ông Trần Quốc K1 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp R, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 12 năm 2023 và tại phiên tòa đại diện Ngân hàng C (gọi tắt là Ngân hàng) ông Đỗ Phi L trình bày: Ngày 13/10/2019 ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 15.000.000 đồng, lãi 8,25%/năm, nguồn vốn cho vay hộ mới thoát nghèo, thời hạn trả đến ngày 13/10/2024. Ngày 13/01/2021 ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 20.000.000 đồng, lãi 9%/năm, nguồn vốn cho vay nước sạch vệ sinh môi trường, thời hạn trả đến ngày 13/01/2026. Theo thỏa thuận tiền lãi trả hàng tháng, số tiền gốc trả định kỳ 06 tháng/lần, nhưng ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 không trả tiền cho Ngân hàng nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. Tính đến thời điểm xét xử ngày 25/4/2024 ông K, ông K1 còn nợ Ngân hàng tiền nợ gốc 35.000.000 đồng, tiền lãi 8.251.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 trả cho Ngân hàng tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/4/2024 số tiền 43.251.000 đồng (trong đó nợ gốc 35.000.000 đồng, lãi 8.251.000 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc.
Đối với bị đơn ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Vụ án từ khi thụ lý đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Về nội dung đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng C. Buộc ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc, lãi là 43.251.000 đồng, tính đến ngày 25/4/2024 và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 có nơi cư trú tại huyện P, nguyên đơn Ngân hàng C khởi kiện ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đối với ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 nhưng ông K, ông K1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K, ông K1 là phù hợp với quy định.
Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng C khởi kiện bị đơn ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 về việc bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền vay 43.251.000 đồng, tính đến ngày 25/4/2024. Xét tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Xét về nội dung tranh chấp: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Phi L xác định ngày 13/10/2019 ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 15.000.000 đồng, lãi 8,25%/năm, nguồn vốn cho vay hộ mới thoát nghèo, thời hạn trả đến ngày 13/10/2024. Ngày 13/01/2021 ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 20.000.000 đồng, lãi 9%/năm, nguồn vốn cho vay nước sạch vệ sinh môi trường, thời hạn trả đến ngày 13/01/2026. Theo thỏa thuận tiền lãi trả hàng tháng, số tiền gốc trả định kỳ 06 tháng/lần, nhưng ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 không trả tiền cho Ngân hàng nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. Tính đến thời điểm xét xử ngày 25/4/2024 ông K, ông K1 còn nợ Ngân hàng tiền nợ gốc 35.000.000 đồng, tiền lãi 8.251.000 đồng. Đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 trả cho Ngân hàng tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/4/2024 số tiền 43.251.000 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc. Đối với bị đơn ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1, nhưng ông K, ông K1 không có ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng, như vậy ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 đã thừa nhận nợ nên không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng C yêu cầu ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 trả nợ gốc và lãi suất phát sinh là có cơ sở chấp nhận. Ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi số tiền 43.251.000 đồng, tính đến ngày 25/4/2024 và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc. Từ những phân tích trên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Ngân hành chính sách xã hội Việt Nam không phải chịu án phí; bị đơn ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng C. Buộc ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 trả cho Ngân hàng C số tiền 43.251.000 đồng (tính đến ngày 25 tháng 4 năm 2024).
Kể từ ngày 26 tháng 4 năm 2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí: ông Trần Quốc K, ông Trần Quốc K1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch số tiền 2.162.550 đồng.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Minh Luân |