vanban.org

Bản án 83/2023/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn Phước - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B án số: 83/2023/HSST
Ngày 31-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Đức

Ông Lê Quốc Ngưu

Ông Nguyễn Đăng Hoà

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Nga, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Dân – Kiểm sát viên

Ngày 31/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLST-HS ngày 11/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2023/QĐXXST-HS ngày 15/8/2023 đối với bị cáo sau:

Nguyễn Ph. Sinh ngày 17/10/1975 tại Bình Định. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn 2, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: làm nông. Học vấn: 7/12. Cha không xác định, mẹ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1955. Vợ là Nguyễn Thị G, sinh năm 1978, có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt ngày 05/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Tống Đức Ngũ, VPLS Hà Trung, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Bị hại: Anh Hồ Văn B, sinh năm 1986. Địa chỉ: thôn 5, xã nghĩa H, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1978. Địa chỉ: thôn 2, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Đặng Hồng B, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn 2, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1971. Địa chỉ: thôn 2, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 20 giờ ngày 11/01/2023, Nguyễn Ph điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave-RS, màu sơn đen, biển kiểm soát 81S6-6092 đi đến quán Cà phê - Bida Tri Kỷ do anh Nguyễn Xuân L(sinh năm 1971; trú tại thôn 2, xã I, huyện C) là chủ quán để mua cà phê về uống. Tại đây Ph gặp người quen là anh Huỳnh Minh Tr (sinh năm 1981; trú tại thôn 1, xã I, huyện C) đang chơi bi da cùng anh Hồ Văn B và anh Đặng Hồng B(sinh năm 1979, trú tại thôn 1, xã I, huyện C). Ph hỏi anh Tr: “Hai anh đây quê dưới mình phải không?” thì anh B chửi Ph: “Đ.M mày tao ở trên trời mày hỏi làm gì”, dẫn đến cả hai cãi vã, xô xát với nhau. Ph chạy vào phòng bếp nhà ông L lấy 02 con dao cầm trên hai tay xông ra, B đập gẫy cây bi da cầm một đoạn trên tay, cả hai lao vào định đánh nhau thì được mọi người can ngăn. Anh Tr giật đoạn cây bi da B đang cầm vứt xuống đất, anh L lấy 02 con dao trên tay Ph cất đi rồi khuyên Ph đi về nhà nghỉ. Khi về nhà, Ph vẫn còn bực tức nên nảy sinh ý định quay lại quán đánh anh B nên một mình đi bộ đến quán Cà phê - Bida Tri Kỷ. Trên đường đi đến trước nhà chị Nguyễn Thị C (sinh năm 1984; trú tại thôn 1, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh, Gia Lai) là nơi thu mua phế liệu, Ph lấy một thanh kim loại, hình trụ tròn, dài 107cm, đường kính 2,8cm, dày 0,2cm, một đầu bịt gỗ, bên trong rỗng trên thân thanh kim loại có 12 lỗ tròn, Tr lượng 880 gram, cầm trên tay. Khi đến nơi, thấy B đang chơi bi da không để ý, Ph bất ngờ chạy vào lối cửa bên hông của quán bi da, lúc này anh B đang đi từ ngoài vào trong để đánh bi da, cách vị trí bàn bi da đang đánh khoảng 0,5m, ở khu vực giữa hai bàn, mặt hướng vào trong quán. Thấy Ph bất ngờ xông đến vị trí của B khoảng 01m, thì Bảo hô lên: “Á” thì B đánh mặt sang bên phải, lúc này Ph hai tay cầm thanh kim loại đưa lên cao đánh mạnh một phát theo phương thẳng đứng từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán thái dương bên phải của B, bị đánh đau B ngồi sụp xuống thì vùng gò má phải đập trúng vào cạnh bàn bi da, rồi B nằm dưới đất. Thấy vậy, anh Bảo cùng mọi người vào ngăn cản, khống chế giật thanh kim loại trên tay Ph vứt ra bên cạnh quán. Anh B đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Quân y 211, đến ngày 01/02/2023 ra viện. Sau khi đánh anh B, Ph đi bộ về nhà ngủ, đến khoảng 05 giờ sáng ngày 12/01/2023 thì Ph dậy, một mình đi đến quán Cà phê - Bi da Tri Kỷ, lúc này nhà anh L vẫn đang ngủ, Ph tìm được thanh kim loại vứt dưới đất bên cạnh quán nên đã cầm thanh kim loại mang đi cất giấu. Đến ngày 13/02/2023 thì Nguyễn Ph đã đến nhà bà Nguyễn Thị Cư lấy thanh kim loại trên mang đến Công an xã Ia Ka giao nộp.

Qua quá trình điều tra, Nguyễn Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Xác định hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra sự việc là tại nhà của ông Nguyễn Văn L thuộc thôn 2, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 49 ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Bệnh viện 211 đối với Hồ Văn B, chẩn đoán: Chấn thương sọ não hở, máu tụ ngoài màng cứng vùng trán thái dương phải, vỡ xương hộp sọ vùng trán, thái dương phải, vỡ nền sọ trước bên phải, gãy cung tiếp gò má phải. Vết thương phần mềm vùng đỉnh phải do bị đánh.

Tại B Kết L giám định pháp y về thương tích số 50/23/TgT ngày 14/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết L đối với thương tích của anh Hồ Văn B:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên vùng đỉnh trước bên phải.

- 01 sẹo mổ hình vòng cung thái dương trán phải.

- 01 sẹo mổ dẫn lưu vùng thái dương phải.

- Chấn thương gây tụ máu ngoài màng cứng vùng trán thái dương phải đã phẫu thuật, tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tổn thương trên phim CT-Scanner sọ não.

- Chấn thương vỡ xương hộp sọ gây khuyết xương sọ vùng trán thái dương đỉnh phải diện (5,8x6,l) cm, đáy phập phồng.

- Chấn thương gây gãy cung tiếp gò má phải không ảnh hưởng chức năng.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 43%. Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.

3. Kết L khác:

Cơ chế hình thành thương tích: Do sự tác động trực tiếp.

Tại Kết L giám định số 129/KLVGTT-TTPY ngày 17 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết L: Thanh kim loại do Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Păh trưng cầu là vật phù hợp có thể gây ra thương tích cho ông Hồ Văn B.

Tại Kết L giám định số 291/KLVGTT-TTPY ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết L: Trên thanh kim loại dài 107cm, đường kính 2,8cm, bên trong rỗng gửi giám định: Không phát hiện có máu.

Tại Kết L giám định số 67/KL-KTHS ngày 12 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum, kết L: Tập tin video “8393413763420843345.mp4”, thời lượng 06 phút 50 giây, dung lượng 79.9 MB gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa

* Vật chứng vụ án: 01 thanh kim loại hình trụ tròn, bên trong rỗng, dài 107cm, màu đen, đường kính 2,8cm, dày 0,2cm.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Văn B yêu cầu Nguyễn Ph bồi thường tổng số tiền 170.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng.

Cáo trạng số 121/CT-VKS-P2 ngày 11/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Ph về tội: “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2. Diễn biến tại phiên tòa:

* Bị cáo đồng ý như nội dung Cáo trạng, tỏ ra ăn năn hối cải. Lời nói sau cùng bị cáo mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt

* Ý kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ph phạm tội: “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 15, Điều 57; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Ph mức án từ 11 năm đến 12 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 7 Nghị quyết số 02 ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại:

- Tiền điều trị có hóa đơn, chứng từ là 27.570.677 đồng

- Tiền xe đi cấp cứu và về 1.000.000 đồng

- Tiền mổ lần 2 lắp sọ nhân tạo 20.000.000 đồng

- Tiền mua sữa bổ não, thuốc bổ não và nước yến là 3.800.000 đồng

- Chi phí đi lại của người nuôi 1.000.000 đồng, tiền công và tiền ăn của người nuôi là 4.200.000 đồng, (tương ứng 200.000 đồng x 21 ngày); chi phí bồi dưỡng sức khoẻ 21 ngày x 125.000 đồng/ngày là 2.625.000 đồng, tổng cộng 7.825.000 đồng

- Tiền đi giám định 1.000.000 đồng

- Tổn thất tinh thần cho bị hại 72.000.000 đồng, tương đương 40 tháng lương cơ sở.

Tổng cộng số tiền 133.195.677 đồng, đã bồi thường được 25.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 108.195.677 đồng

Về vật chứng: tịch thu tiêu huỷ 01 thanh kim loại là phương tiện phạm tội

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.

- Người bào chữa cho bị cáo, luật sư Tống Đức Ngũ: đồng ý như nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “ i t người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX xem xét và áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu; sự việc xảy ra có phần lỗi của bị hại, xử bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên. Về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại với mức 25 tháng lương cơ sở.

- Bị hại anh Hồ Văn B yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí điều trị và tổn thất tinh thần tổng cộng 170.000.000 đồng, đã bồi thường 25.000.000 đồng, nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 145.000.000 đồng. Về hình phạt đề nghị xử theo quy định pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị G xác nhận đã bồi thường cho bị hại 25.000.000 đồng, không có ý kiến gì đối với số tiền này.

NHẬN ĐỊNH CỦA A N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 21h30’ ngày 11/01/2023, Hồ Văn B cùng Đặng Hồng Bvà Huỳnh Minh Tr đang đánh bida thì Nguyễn Ph điều khiển xe mô tô đến quán bida chơi và hỏi chuyện anh Tr, thì giữa Ph và anh B xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, được mọi người can ngăn nên Ph bỏ đi về. Khi về tới nhà, do vẫn còn bực tức nên Ph lấy 01 thanh kim loại tại nơi thu gom phế liệu dọc đường quay lại quán bida. Khi thấy anh B thì Ph xông đến, hai tay cầm thanh kim loại đưa lên cao đánh mạnh một phát từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán thái dương bên phải của anh B, hậu quả anh B bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tích là 43%.

Như vậy chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc nói chuyện, đã được can ngăn, nhưng bị cáo dùng hung khí nguy hiểm, đánh vào vùng Tr yếu trên cơ thể bị hại, buộc bị cáo phải nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra nếu không được can ngăn và đưa đi cấp cứu kịp thời. Hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ hung hãn, đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên có căn cứ, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm Tr, xâm phạm đến sức khoẻ, đe doạ tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương, nên phải chịu mức án trong khung hình phạt để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét hậu quả chết người chưa xảy ra, nên thuộc trường hợp hoàn thành về hành vi nhưng chưa đạt về hậu quả. Hội đồng xét xử áp dụng quy định về phạm tội chưa đạt theo Điều 15, khoản 3 Điều 57 khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Về tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu; giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị hại có phần lỗi vì có lời nói thiếu chuẩn mực làm bị cáo bực tức nên phát sinh hành vi phạm tội, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về dân sự: bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại; quá trình điều tra, xét xử bị hại yêu cầu được bồi thường số tiền 170.000.000 đồng.

Xét yêu cầu của bị hại: Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản điều trị có hoá đơn chứng từ, chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ, tiền giám định, công người chăm sóc và tổn thất tinh thần như sau:

- Tiền thuốc 12.267.289 đồng

- Tiền nằm dịch vụ 17.000.000 đồng

- Tiền ăn 4.200.000 đồng ( 21 ngày x 200.000 đồng/2 người)

- Tiền xe đi cấp cứu 1.000.000 đồng

- Tiền công người nuôi 21 ngày x 200.000 đồng/ngày = 4.200.000 đồng

- Tiền mua sữa bổ não 1.800.000 đồng

- Chi phí đi lại của người nuôi 1.000.000 đồng

- Tiền thuốc bổ não 2.000.000 đồng

- Tiền đi giám định 1.000.000 đồng

- Tiền tổn thất tinh thần 36.000.000 đồng, tương đương 20 tháng lương cơ sở

Tổng cộng 80.467.289 đồng, đã bồi thường 25.000.000 đồng, còn tiếp tục bồi thường 55.467.289 đồng.

[6] Về vật chứng: đối với 01 thanh kim loại là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾ ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: tuyên bố bị cáo Nguyễn Ph phạm tội: “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Ph 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2023.

2. Về dân sự: căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Buộc bị cáo Nguyễn Ph phải tiếp tục bồi thường cho bị hại anh Hồ Văn B số tiền 55.467.289 đồng.

Kể từ ngày B án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đ n khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ 01 thanh kim loại có đặc điểm mô tả như biên B giao nhận vật chứng số 119/2023 lập ngày 17/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

4. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Ph phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.773.400 (Hai triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

5. Về thi hành án dân sự: Trường hợp B án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ