vanban.org

Bản án 83/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo A và B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo A 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HSST
Ngày 22 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang A

2. Ông Nguyễn Hải Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 82/2023/TL - HSST ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với:

* Bị cáo A, sinh năm: 2001; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: thị trấn phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nghề Nghiệp: Không. Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Đinh Hồng T, sinh năm 1977; Họ và tên mẹ: Đường Thanh H, sinh năm 1982; Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là anh cả. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 19/02/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị cáo B, sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: tổ 7, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nghề Nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Đỗ Tất M, sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Đào Thị M, sinh năm 1966. Bị cáo có chồng là Phạm Trang L (không đăng ký kết hôn). Bị cáo có 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 20/02/2023, được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn ngày 23/02/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Lưu Bình K, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ngọc Khánh, Ba Đình, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 2003. HKTT: Phố Lu, Bảo Thắng, Lào Cai. Địa chỉ: Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Hoàng Đăng N, sinh năm 1990. Địa chị: Thanh Trì, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa

3. Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 1993. Địa chỉ: phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

4. Anh Vũ Xuân Ha, sinh năm 1989. Địa chỉ: phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

5. Anh Bùi Thành Đ, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.

6. Anh Nguyễn Tuấn D, sinh năm 2003. HKTT: Phố Lu, Bảo Thắng, Lào Cai. Địa chỉ: khu tập thể T1 ngõ 455 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

A và B là bạn học cùng nhau từ cấp 2 tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Hiện tại, A và B cùng làm việc và thuê trọ trên địa bàn phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Ngày 07/02/2023, B sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook và Instargram tên “Đỗ B”, nhắn tin đến tài khoản “Công A” của A, kể lại việc xảy ra mâu thuẫn với bạn cùng nhà trọ tại địa chỉ Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội là anh Lưu Bình K (Sinh năm: 1991; HKTT: phường Hợp Minh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái). B rủ A cùng trộm cắp chiếc xe máy Honda SH mang BKS 29L1-XXX.XX của anh K để trả thù và bán lấy tiền chia nhau tiêu sải. Do cũng đang thiếu tiền tiêu sài nên A đồng ý tham gia. Chiếc xe máy của anh K được để tại nhà xe tầng 1 khu nhà trọ, cửa ra vào là dạng khóa vân tay, mật mã. Khi có điều kiện thuận lợi, B và A cùng thống nhất B sẽ mở khóa cửa và khép hờ để A lẻn vào trộm cắp xe. B còn cảnh báo với A, nhà để xe có camera, nên B yêu cầu A phải đeo khẩu B che kín mặt tránh bị phát hiện.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/02/2023, A đang ở nhà trọ cùng Nguyễn Xuân L (Sinh năm: 2003; HKTT: Phố Lu, Bảo Thắng, Lào Cai) và Nguyễn Tuấn D (Sinh năm: 2003; HKTT: Phố Lu, Bào Thắng, Lào Cai) thì nhận được tin nhắn của B, báo cho A biết đã có điều kiện thuận lợi để trộm cắp xe máy của anh K, cả hai sẽ thực hiện theo kế hoạch đã bàn bạc từ trước. Đến khoảng 01h40’ cùng ngày, A một mình đi bộ từ nhà trọ của mình đến nhà trọ của B tại địa chỉ Kim Mã, Ngọc Khánh. Đến nơi, A phát hiện cửa ra vào khép hờ, không khóa, A đẩy cửa đi vào trong nhà xe tầng 1. Quan sát xung quanh, A phát hiện chiếc xe máy của anh K theo đặc điểm của B mô tả, đang được dựng sát cửa ra vào, xe không khóa cổ, khóa càng. A gạt chân chống quay xe, dắt xe ra khỏi nhà, đóng cửa lại. A dắt bộ xe về nhà trọ của mình tại ngõ Kim Mã, Ngọc Khánh. A dựng xe trộm cắp được để trước cửa nhà rồi vào đi ngủ. Đến 08 giờ 20 phút cùng ngày, A tỉnh dậy và nhờ L cùng đẩy xe trộm cắp được vào trong nhà cất giấu. Sau đó, A một mình đi xe khách về quê ở Phố Lu, Bảo Thắng, Lào Cai. Trên đường đi, A tìm trên mạng xã hội và thuê thợ sửa khóa là anh Hoàng Đăng N (Sinh năm: 1990; HKTT: Đội 9, Đại Áng, Thanh Trì, Hà Nội) đến thay ổ khóa điện chiếc xe trộm cắp được, với giá thỏa thuận là 1.350.000 đồng. Khi anh N đến thay ổ khóa, A nhờ L đón và chỉ xe cho anh N thay khóa. Khi anh N đang thay khóa xe thì D đi về. Anh N thay khóa xong, đưa chìa khóa lại cho L. A chuyển khoản thanh toán tiền cho anh N và nhờ L kiểm tra cốp xe, bỏ tài sản có trong cốp vào phòng trọ. L kiểm tra, thấy bên trong cốp xe có 02 lọ nước hoa, đã qua sử dụng, nên để vào phòng trọ cho A.

Đến khoảng 12 giờ 45 cùng ngày, A liên lạc với bạn là anh Nguyễn Tiến H (Sinh năm: 1993; HKTT: phường Bắc Cường, TP.Lào Cai, Lào Cai), nhờ H tìm chỗ cầm cố chiếc xe trên. A nói với H có người đang cần cầm cố chiếc xe Honda SH, đời 2020 với giá khoảng 12.000.000 đồng, thời gian cầm cố khoảng 01 tháng, nếu hết thời gian không có khả năng chuộc lại xe, sẽ bán với giá khoảng 40 - 50.000.000 đồng, lúc này sẽ đưa đăng ký xe. Hiệp đồng ý và liên lạc với bạn là Vũ Xuân Ha (Sinh năm: 1989; HKTT: phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La), vì trước đó H đã nhờ Hiệp tìm mua xe. H nói lại với Ha việc có người đang cần cầm cố xe, nhưng nâng giá cầm cố lên 16.000.000 đồng, để hưởng tiền chênh lệch. Hảo đồng ý, nhờ H đặt cọc tiền, đồng thời chuyển xe lên Sơn La cho Hảo bằng xe khách. Hiệp báo lại cho A về việc đã tìm được người nhận cầm cố xe. Hiệp chuyển khoản trước cho A số tiền 5.000.000 đồng, còn 7.000.000 đồng hẹn sẽ chuyển ngay khi xe được đưa lên xe khách. Sau đó, A nhờ bạn là Bùi Thành Đ (Sinh năm: 2000; HKTT: Thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, thành phố Lào Cai) đến phòng trọ gặp Lộc lấy chìa khóa xe, điều khiển xe ra Bến xe Mỹ Đình, gửi xe khách lên Sơn La, A sẽ thanh toán tiền xe ôm và trả công cho Đạt. Đến 19 giờ cùng ngày, Đạt chuyển xe lên xe khách và báo lại cho A biết, A chuyển khoản cho Đ số tiền 450.000 đồng (gồm 150.000 đồng là tiền xe ôm và 300.000 đồng là tiền công). H báo lại cho Ha việc xe đã được chuyển đi. Sau đó, Ha đã chuyển khoản cho H số tiền 16.000.000 đồng như thỏa thuận. H chuyển khoản nốt cho A số tiền 7.500.000 đồng (trong đó 500.000 đồng là tiền phí vận chuyển xe). Đến 05 giờ ngày 18/02/2023, H nhận được chiếc xe trên và sử dụng làm phương tiện đi lại.

Qua truy xét, ngày 19/02/2023, Cơ quan điều tra đã triệu tập A và những người liên quan Nguyễn A D, Nguyễn Xuân L, Nguyễn Tiến H, Vũ Xuân Ha, Bùi Thành Đ. Ngày 20/02/2023, đã triệu tập B về trụ sở để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, A và B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.

- Nguyễn Tuấn D và Nguyễn Xuân L đã nhận dạng và xác nhận A là người đã mang xe máy Honda SH, BKS: 29L1-xxx.xx về phòng trọ tại địa chỉ Kim Mã.

- Nguyễn Tiến H đã nhận dạng và xác nhận A là người nhờ Hiệp cầm cố chiếc xe máy Honda SH, BKS: 29L1-xxx.xx.

- Bùi Thành Đ đã nhận dạng và xác nhận A nhờ Đạt mang 01 chiếc xe máy Honda SH, BKS: 29L1-xxx.xx ra bến xe Mỹ Đình để gửi Sơn La cho 01 người tên Ha.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của A: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng, Imei 35611509797xxxx, không gắn sim. 01 diện thoại Iphone 6s màu vàng, Imei 35857007376xxxx, Sim: 0773.256.xxx. 01 đôi dép, A sử dụng khi trộm cắp tài sản.

- Thu giữ của B: 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh, Imei 3528441137xxxx, Sim: 036863xxxx.

- Thu giữ của Nguyễn Xuân L: 01 lọ nước hoa “Tom Ford Lost Cherry” và 01 lọ nước hoa “Black Opium” (đã qua sử dụng). Đây là tài sản trong cốp xe máy của anh Lưu Bình K.

- Thu giữ của Vũ Xuân Ha: 01 chiếc xe máy Honda SH, BKS: 29L1-xxx.xx (SK: 006733, SM: 1006819), là tài sản A trộm cắp của anh Lưu Bình K.

Bản kết luận định giá tài sản số 27/KLGĐ – HĐĐGTS ngày 17/03/2023 của hội đồng định giá tài sản UBND quận Ba Đình luận: “01 chiếc xe máy Honda SH, BKS 29L1 – xxx.xx, số khung 006733, số máy 1006819 có trị giá 80.000.000 đồng. ngày 09/01/2018; 01 lọ nước hoa "Tom Ford Lost Cherry” đã qua sử dụng có trị giá 50.000đồng, 01 lọ nước hoa "Black Opium”, đã qua sử dụng có trị giá 50.000 đồng”.

Đối với Nguyễn Tuấn D, Nguyễn Xuân L, Bùi Thành Đ, Hoàng Đăng N, Nguyễn Tiến H, Vũ Xuân Ha không biết về nguồn gốc chiếc xe máy Honda SH, BKS: 29L1 – xxx.xx là tài sản do A trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về dân sự, anh Lưu Bình K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị bồi thường dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Vũ Xuân Ha không có yêu cầu.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố A và B về tội Trộm cắp tài sản theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Ngày 17/02/2023, tại địa chỉ Kim Mã, Phường Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội, A và B đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda SH, BKS: 29L1 – xxx.xx bên trong cốp xe có 02 chai nước hoa đã qua sử dụng, với tổng trị giá 80.100.000 đồng của anh Lưu Bình K. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, ngày 19/02/2023, 20/02/2023, Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình đã bắt khẩn cấp đối với A, B. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo A và B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với bị cáo B).

Đề nghị xử phạt các bị cáo A từ 30 đến 36 tháng tù.

Đề nghị xử phạt các bị cáo B từ 30 đến 36 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước của A: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng, Imei 35611509797xxxx, không gắn sim. 01 điện thoại Iphone 6s màu vàng, Imei 35857007376xxxx, Sim: 0773.256.xxx.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nguyễn Thu B: 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh, Imei 3528441137xxxx, Sim: 036863xxx.

Truy thu và sung quỹ Nhà Nước số tiền 12.500.000 đồng của bị cáo A do phạm tội mà có được.

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu đen (đã qua sử dụng)

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là Lưu Bình K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Xuân Ha không yêu cầu A bồi thường số tiền mua xe nên không xem xét.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo A và B đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án các bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đã trình bầy nội dung sự việc và đã có lời khai tại cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ, nên việc vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi các bị cáo A và B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận định giá tài sản của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ba Đình cùng các tài liệu có trong hồ sơ: Ngày 17/02/2023, tại địa chỉ Kim Mã, Phường Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội, A và B đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy Honda SH, BKS: 29L1 – 77419 bên trong cốp xe có 02 chai nước hoa đã qua sử dụng, với tổng trị giá 80.100.000 đồng của anh Lưu Bình K. Hành vi trên đây của A và B đã phạm vào tội ‘Trộm cắp tài sản’’. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo để giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét đây là vụ án có tính chất đồng phạm, các bị cáo đã có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, hành vi phạm tội đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của từng bị cáo trong vụ án cụ thể như sau:

Đối với bị cáo B là người khởi xướng, là người phát hiện ra tài sản và rủ rê bị cáo A cùng thực hiện hành vi pham tội. Bị cáo A là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo A là người trực tiếp đi bán tài sản vừa trộm cắp được với giá 12.500.000 đồng và bị cáo A cũng không chia cho bị cáo B. Nhận thấy tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo A và bị cáo B là ngang nhau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét:

Nhân thân bị cáo A không có tiền án, tiền sự, thái độ của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Ông ngoại của bị cáo là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hiện đang được hưởng trợ cấp đối với người nhiễm chất độc hóa học. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Nhân thân bị cáo B không có tiền án, tiền sự, phạm tội trong thời gian có thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét bị cáo A, bị cáo B không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 cho các bị cáo.

Bị cáo A đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước của A: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng, Imei 35611509797xxxx, không gắn sim. 01 điện thoại Iphone 6s màu vàng, Imei 35857007376xxxx, Sim: 0773.256.xxx.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nguyễn Thu B: 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh, Imei 3528441137xxxx, Sim: 036863xxxx.

Đối với số tiền 12.500.000 đồng bị cáo A có được do hành vi phạm tội mà có nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền này.

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu đen (đã qua sử dụng)

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Lưu Bình K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Vũ Xuân Ha là người đã mua lại xe của bị cáo A, anh Hảo đã tự nguyện trả lại xe cho cơ quan cảnh sát điều tra và không yêu cầu A trả lại số tiền anh Hảo đã bỏ ra để mua xe. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố các bị cáo A và B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo A 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/02/2023.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, Điều 38; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo B 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 20/02/2023 đến ngày 23/02/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo A: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng, Imei 35611509797xxxx, không gắn sim. 01 điện thoại Iphone 6s màu vàng, Imei 35857007376xxxx, Sim: 0773.256.xxx theo biên bản bàn giao vật chứng số 145 ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nguyễn Thu B: 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu xanh, Imei 3528441137xxxx, Sim: 036863xxxx biên bản bàn giao vật chứng số 145 ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Truy thu sung quỹ Nhà Nước số tiền 12.500.000 (Mười hai triệu, năm trăm nghìn) đồng của bị cáo A.

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu đen (đã qua sử dụng) theo biên bản bàn giao vật chứng số 145 ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1,4 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 22 tháng 6 năm 2023. Người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ ./.

Cỡ chữ