vanban.org

Bản án 83/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2022. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HS-ST
Ngày: 12 – 5 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT – TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Nguyễn Thị Thắm

2. Nguyễn Kim Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại phòng xử án - Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Chu Văn H; sinh ngày: 20/9/1996, tại tỉnh Hà Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Chu Quang V, sinh năm 1974; mẹ: Nông Thị Đ, sinh năm 1977; bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty cổ phần S; địa chỉ: đường D2, khu công nghiệp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện: Ông Hà Văn T, sinh năm: 1984; địa chỉ: 327/6 đường 30/4, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chu Văn H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, không có nơi cư trú nhất định và nghiện trò chơi điện tử nên thường đến các tiệm kinh doanh trò chơi điện tử trên địa bàn xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương chơi.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/12/2022, Hoạt đang chơi điện tử tại tiệm máy tính T, thuộc ấp R, xã A thì hết tiền. Lúc này, H nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền chơi điện tử tiếp nên đi bộ tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường D2 thuộc khu Công nghiệp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, H phát hiện Công ty Cổ phần S không có bảo vệ đi tuần nên lén lút đi lại khu vực tường rào, trèo vào bên trong Công ty tìm tài sản lấy trộm. Khi H đi đến khu vực nhà xưởng kho nguyên liệu thì phát hiện trên kệ Palet bên trong nhà xưởng có để nhiều thanh nhôm nguyên liệu nhưng đã bị khóa cửa chính. H đi lại chỗ cửa sổ kho đang mở rồi leo vào trong xưởng, lấy 40 thanh nhôm nguyên liệu từ trên kệ Palet xuống đặt trên bàn sắt bên trong xưởng. Sau đó, H khiêng các thanh nhôm nguyên liệu này ra đặt tại dưới nền bên trong nhà xưởng sát khu vực cửa chính để lấy đưa ra bên ngoài qua khe hở bên dưới cửa. Khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, khi H khiêng được 24/40 thanh nhôm nguyên liệu thì bị anh Lê Chí L là bảo vệ của Công ty S phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Theo Kết luận định giá tài sản số 150/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, kết luận: 225kg nhôm hợp kim, dạng thỏi, dùng làm nguyên liệu trị giá 14.845.950 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 78/CT – VKSBC ngày 31/3/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Chu Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại đồng ý với bản kết luận định giá tài sản và tội danh, điều luật Cáo trạng Viện Kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 05 (năm) tháng tù, bằng thời hạn đã tam giam.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý đối với toàn bộ Cáo trạng, bản luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 78/CT-VKSBC ngày 31/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 11/12/2022, tại Công ty Cổ phần S, địa chỉ: Đường D2 thuộc khu Công nghiệp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, Chu Văn H đã có hành vi lén lút vào kho xưởng của Công ty lấy trộm 40 thanh nhôm hợp kim, dạng thỏi, dùng làm nguyên liệu, có tổng trọng lượng 225 kg của trị giá 14.845.950 đồng nhưng chưa đưa ra được bên ngoài thì bị bảo vệ công ty phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, tài sản bị thiệt hại được định giá là 14.845.950 đồng. Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.

[03 Xét tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện: Bị cáo phạm tội mang tính chất giản đơn. Xuất phát từ việc không có nghề nghiệp, nghiện game online, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên thực hiện hành vi phạm tội.

Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trao trả cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị thiệt hại đã được trao trả cho chủ sở hữu. Bị hại không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2022.

Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ