vanban.org

Bản án 83/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 07/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn S phạm tội “Cướp giật tài sản”

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn S 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 18/4/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn S - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn S phạm tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số 83/2023/HS-ST
Ngày 07-9-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Thanh

Bà Trần Thị Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Ông Lê Doãn Thọ, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn S, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã Tam Đ, huyện N, tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1950; có vợ Lê Thị N, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Chưa; nhân thân: Ngày 26/02/2019, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/4/2023; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Chị Tăng Thị Thu T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số 365 đường Phan B, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 28/8/2023 chị T xin xét xử vắng mặt).

2. Chị Đoàn Thị L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 223 đường Phan B, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 28/8/2023 chị L xin xét xử vắng mặt).

3. Anh Khương Minh B, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn T, xã Đại L, huyện L, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở hiện tại: Số 196 đường Trần C, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 28/8/2023 anh B xin xét xử vắng mặt).

4. Anh Vũ Hoàng P, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số 76 đường P, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 30/8/2023 anh P có đơn xin xét xử vắng mặt).

5. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khối phố H, phường H, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 28/8/2023 chị L xin xét xử vắng mặt).

6. Bà Thái Thị Kim T, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số 60 đường Đỗ C, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 28/8/2023 bà T xin xét xử vắng mặt).

7. Bà Doãn Thị C, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn M, xã X, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 29/8/2023 bà C xin xét xử vắng mặt).

8. Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1954. Địa chỉ: Số 02 đường Trần N, huyện T, tỉnh Quảng Nam (ngày 28/8/2023 bà C xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

2. Chị Phạm Thị Tr, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khối phố 3, phường A, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

3. Anh Trương Duy Ph, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

4. Chị Huỳnh Thị Yến Ph, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

5. Chị Đinh Thị H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Phạm Thị Kim T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn G, xã G, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở: Số 196 Trần C, phường T, huyện, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

2. Bà Võ Thị L, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khối phố Đ, phường T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn S bị nghiện ma túy, do không có tiền mua ma túy sử dụng, nên bị cáo nảy sinh ý định giả vờ mua thuốc lá của các tiệm tạp hóa, sau đó lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu công khai chiếm đoạt tài sản trong tầm quản lý của chủ sở hữu rồi nhanh chóng tẩu thoát, với thủ đoạn này từ ngày 07/3/2023 đến ngày 18/4/2023 trên địa bàn huyện T và huyện B của tỉnh Quảng Nam bị cáo S đã 08 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các chủ sở hữu, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 07/3/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92H8-5127 đi từ nhà tại thôn A, xã Đ, huyện N, tỉnh Quảng Nam đến thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với mục đích vào tiệm tạp hóa giả vờ hỏi mua hàng, sau đó lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo S điều khiển xe chạy đến tiệm tạp hóa số 365 đường Phan B, thành phố Tam Kỳ của chị Tăng Thị Thu T, bị cáo điều khiển xe chạy lên vỉa hè trước cửa tiệm, dựng xe để đầu xe quay ra hướng Đà Nẵng rồi đi bộ vào bên trong tiệm, bị cáo Sửu giả vờ nói chị T bán cho 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince, chị T lấy 02 cây thuốc lá bỏ vào bao ni lông rồi đưa cho bị cáo, bị cáo giả vờ nói chị T bán thêm 10 gói mì tôm, chị T lấy bao bỏ mì tôm vào để đưa cho bị cáo, lúc này bị cáo ngồi ở ghế phía sau lưng chị T, cách chị T khoảng 1,3 mét trên tay cầm bao đựng 02 cây thuốc lá, lợi dụng lúc chị T đang lấy mì tôm, bị cáo nhanh chóng cầm 02 cây thuốc lá chạy ra chổ để xe nổ máy bỏ chạy, chị T thấy vậy liền đuổi theo la lên “bắt cái thằng nớ lại, bắt giùm cái thằng nớ lại”, nhưng do bị cáo chạy nhanh quá nên chị T đuổi không kịp. Sau khi chiếm đoạt tài sản, bị cáo S đem 02 cây thuốc lá đến bán cho chị Phạm Thị Tr được 270.000 đồng. Sau đó, bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở xã C, huyện P mua của Sáu D 200.000 đồng ma túy sử dụng, số tiền 70.000 đồng còn lại bị cáo đổ xăng và ăn uống hết. Sau khi mua 02 cây thuốc lá từ bị cáo S, chị Tr đã bán lại cho khách hàng nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Vụ thứ hai: Sáng ngày 17/3/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92H8-5127 chạy đến tiệm tạp hóa của chị Đoàn Thị L tại số 223 đường Phan B, thành phố Tam Kỳ, bị cáo dựng xe trước tiệm tạp hóa đầu xe hướng vào Quảng Ngãi rồi đi vào gặp chị L, bị cáo giả vờ hỏi mua 02 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince, chị L lấy 03 cây thuốc lá bỏ vào trong túi ni lông rồi để trên bàn gần quầy thu tiền, bị cáo giả vờ mua thêm 10 bịch sữa tươi, chị L đi lấy sữa thì bị cáo cầm túi ni lông có 03 cây thuốc lá bỏ chạy đến chỗ để xe nổ máy bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo S đem 03 cây thuốc lá đến bán cho anh Trương Duy Ph được 450.000 đồng. Sau đó, bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở xã C, huyện P mua ma túy sử dụng và đổ xăng, ăn uống hết số tiền 450.000 đồng. Sau khi mua 03 cây thuốc lá từ bị cáo S, anh Ph đã bán lại cho khách hàng nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Vụ thứ 3: Vào lúc 07 giờ 23 phút ngày 23/3/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92H8-5127 chạy đến trước tiệm tạp hóa B tại số 196 đường Trần C, thành phố Tam Kỳ bị cáo S vào gặp anh Khương Minh B (chủ tiệm tạp hóa) hỏi mua 02 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá Prince, anh B lấy 03 cây thuốc lá đưa cho bị cáo, bị cáo giả vờ mua thêm sữa, mỳ tôm, anh B quay vào bên trong tiệm lấy sữa và mỳ tôm, lúc này bị cáo cầm 03 cây thuốc chạy nhanh đến xe của mình đang dựng trước tiệm tạp hóa, nổ máy bỏ chạy. Lúc này chị Phạm Thị Kim T, vợ anh B đứng gần cửa ra vào cách bị cáo khoảng 02 mét nhìn thấy bị cáo cầm 03 cây thuốc lá bỏ chạy nên la lớn, anh B đuổi theo nhưng bị cáo đã lên xe máy tẩu thoát nên không đuổi kịp. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo S mang 03 cây thuốc lá đến trước Ga K bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch được 400.000 đồng. Sau đó bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở xã C, huyện P mua ma túy sử dụng và đổ xăng, ăn uống hết số tiền 400.000 đồng. Do không xác định được người mà bị cáo S bán 03 cây thuốc lá nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Vụ thứ 4: Sáng ngày 28/3/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92X1-022.86 chạy đến tiệm tạp hoá số 76 đường Trần P, thành phố Tam Kỳ do anh Vũ Hoàng P làm chủ, thì gặp bà Võ Thị L là người bán hàng, bị cáo dựng xe trước tiệm rồi giả vờ hỏi mua 02 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince, bà L lấy 03 cây thuốc lá để lên mặt bàn quầy tính tiền, bị cáo cầm 03 cây thuốc lá bỏ vào bao ni lông rồi giả vờ hỏi mua thêm mỳ tôm, sữa, bà L đi vào lấy hàng thì bị cáo cầm túi ni lông đựng 03 cây thuốc lá nhanh chóng chạy đến chỗ để xe mô tô nổ máy bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo S mang 03 cây thuốc lá đến trước Ga K bán cho người đàn ông không rõ lai lịch đang đứng trước Ga K với giá 400.000 đồng. Sau đó, bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước mua ma túy sử dụng và đổ xăng, ăn uống hết số tiền 400.000 đồng. Do không xác định được người mà bị cáo Sửu bán 03 cây thuốc lá nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Vụ thứ năm: Sáng ngày 12/4/2023, bị cáo Sửu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92H8-5127 chạy đến tiệm tạp hóa của chị Nguyễn Thị L trên đường T, thành phố Tam Kỳ, bị cáo dựng xe trước tiệm, đầu xe hướng đường Phan Tr rồi đi vào gặp chị L, bị cáo giả vờ mua 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince, chị L lấy 02 cây thuốc lá bỏ vào túi ni lông để trên bàn tính tiền, bị cáo S đến cầm túi ni lông có 02 cây thuốc lá trên rồi giả vờ mua thêm 30.000 đồng rượu gạo bỏ vào 03 túi ni lông khác nhau, chị L đến bình rượu gạo, cách vị trí bị cáo đang đứng là 5,1 mét, mặt nhìn ra đường thì thấy bị cáo cầm 02 cây thuốc lá bỏ chạy ra xe, chị L đuổi theo la lớn “bắt lại, lấy đồ của tôi chi tội rứa”, bị cáo nhanh chóng lên xe mô tô điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được 02 cây thuốc lá, bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến trước Ga K bán cho người đàn ông không rõ lai lịch được 270.000 đồng. Sau đó bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở xã C, huyện P mua ma túy sử dụng và đổ xăng, ăn uống hết số tiền 270.000 đồng. Do không xác định được người mà bị cáo S bán 02 cây thuốc lá trên nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Vụ thứ sáu: Sáng ngày 13/4/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92H8-5127 đến trước tiệm tạp hóa của bà Thái Thị Kim T tại số 60 đường Đỗ C, thành phố Tam Kỳ, bị cáo vào tiệm và giả vờ hỏi mua 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince, bà T lấy thuốc lá bỏ vào túi ni lông để tại quầy tính tiền, bị cáo giả vờ mua thêm 10 quả trứng gà, bà T quay lưng lại lấy trứng thì bị cáo lấy túi ni lông có 02 cây thuốc lá bỏ chạy đến chỗ để xe mô tô rồi nổ máy xe bỏ chạy. Bị cáo S mang 02 cây thuốc lá đến bán cho anh Trương Duy Ph được 270.000 đồng. Sau đó, bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở xã Cảnh, huyện P mua ma túy sử dụng và đổ xăng, ăn uống hết 270.000 đồng. Sau khi mua 02 cây thuốc là từ bị cáo S, anh Ph đã bán lại cho khách hàng nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Vụ thứ bảy: Sáng ngày 14/4/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92H8-5127 xe chạy trước tiệm tạp hóa của bà Doãn Thị C tại thôn, xã X, huyện T, bị cáo S vào gặp bà C giả vờ mua 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince, bà C lấy 02 cây thuốc bỏ vào trong túi ni lông rồi đưa cho bị cáo, bị cáo giả vờ mua thêm 02 bộ bài, bà C đi vào lấy thì bị cáo cầm túi ni lông có 02 cây thuốc lá bên trong bỏ chạy đến chỗ để xe mô tô nổ máy xe bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được 02 cây thuốc lá, bị cáo S mang đến quán cà phê của chị Đinh Thị H và bán cho chị H được 270.000 đồng. Sau đó, bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở xã C, huyện P mua ma túy sử dụng và đổ xăng, ăn uống hết 270.000 đồng. Sau khi mua 02 cây thuốc lá từ bị cáo S, chị H đã bán lại cho khách hàng nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Vụ thứ tám: Sáng ngày 18/4/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92H8-5127 chạy đến tiệm tạp hóa của bà Huỳnh Thị K tại số 02 đường Trần N, huyện T, bị cáo dựng xe trước tiệm tạp hóa rồi đi vào trong giả vờ mua 01 cây thuốc lá hiệu White Horse, 01 cây thuốc lá hiệu Prince và 01 chai dầu ăn, bà K lấy 02 cây thuốc lá và chai dầu ăn ra để trên bàn trong tiệm tạp hóa rồi đi lấy bao ni lông bỏ hàng vào. Lúc này, bị cáo đến chỗ bàn lấy 02 cây thuốc lá bỏ chạy ra xe mô tô nổ máy xe bỏ chạy, lúc này bà K đang lấy bao ni lông thì nhìn thấy bị cáo cầm 02 cây thuốc lá bỏ chạy ra xe mô tô nổ máy xe tẩu thoát nhưng sự việc diễn ra quá nhanh bà K không kịp phản ứng gì. Sau khi chiếm đoạt 02 cây thuốc lá, bị cáo S đem đến bán cho chị Phạm Thị Tr được 270.000 đồng. Sau đó, bị cáo S điều khiển xe mô tô chạy đến nhà người đàn ông tên Sáu D ở xã C, huyện P mua 200.000 đồng ma túy sử dụng, số tiền 70.000 đồng còn lại bị cáo S đổ xăng và ăn uống hết. Sau khi mua 02 cây thuốc là từ bị cáo S, chị Tr đã bán hết lại cho khách hàng nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 08/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tam Kỳ kết luận:

- 01 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 07/3/2023 có giá là 235.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 07/3/2023 có giá là 80.000 đồng;

- 02 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 17/3/2023 có giá là 470.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 17/3/2023 có giá là 80.000 đồng;

- 01 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 18/4/2023 có giá là 235.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 18/4/2023 có giá là 80.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 08/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tam Kỳ kết luận:

- 02 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 23/3/2023 có giá là 470.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 23/3/2023 có giá là 80.000 đồng;

- 02 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 28/3/2023 có giá là 470.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 28/3/2023 có giá là 80.000 đồng;

- 01 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 12/4/2023 có giá là 235.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 12/4/2023 có giá là 80.000 đồng;

- 01 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 13/4/2023 có giá là 235.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 13/4/2023 có giá là 80.000 đồng;

- 01 cây thuốc lá hiệu White Horse thời điểm định giá ngày 14/4/2023 có giá là 235.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince thời điểm định giá ngày 14/4/2023 có giá là 80.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSTK-HS ngày 10-8-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn S về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn S và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan khác theo như Cáo trạng đề nghị.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt, tuy nhiên những người này đã có lời khai rõ ràng tại Cơ quan điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

Về nội dung:

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 07/3/2023 đến ngày 18/4/2023 trên địa bàn thành phố Tam Kỳ và huyện Núi Thành của tỉnh Quảng Nam, bị cáo S đã liên tục 08 lần có hành vi giả vờ hỏi mua thuốc lá của các tiệm tạp hóa, rồi lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu công khai chiếm đoạt các cây thuốc lá trong tầm quản lý của chủ sở hữu rồi nhanh chóng tẩu thoát. Với thủ đoạn này, bị cáo đã chiếm đoạt của chị Tăng Thị Thu T 02 cây thuốc lá (01 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc lá hiệu Prince), trị giá 315.000 đồng; của chị Đoàn Thị L 03 cây thuốc lá (02 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc hiệu Prince), trị giá 550.000 đồng; của anh Khương Minh B 03 cây thuốc lá (02 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc hiệu Prince), trị giá 550.000 đồng; của anh Vũ Hoàng Ph 03 cây thuốc lá (02 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc hiệu Prince), trị giá 550.000 đồng; của chị Nguyễn Thị L 02 cây thuốc lá (01 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc hiệu Prince), trị giá 315.000 đồng; của bà Thái Thị Kim T 02 cây thuốc lá (01 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc hiệu Prince), trị giá 315.000 đồng; của bà Doãn Thị C 02 cây thuốc lá (01 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc hiệu Prince), trị giá 315.000 đồng; của bà Huỳnh Thị K 02 cây thuốc lá (01 cây thuốc hiệu White Horse, 01 cây thuốc hiệu Prince), trị giá 315.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 3.225.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo có đủ năng lực nhận thức được việc xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm minh, tuy nhiên vì muốn có tiền để mua ma túy sử dụng và tiêu xài nên bị cáo đã vào các tiệm tạp hóa giả vờ mua thuốc lá và sau đó giả vờ mua thêm đồ khác, khi các bị hại lấy thêm đồ thì bị cáo nhanh chóng lấy các cây thuốc lá chạy đến chổ để xe mô tô nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vừa xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại, vừa làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện và thành phố của tỉnh, vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo đã 08 lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân ngày 26/02/2019, bị Công an huyện Phú Ninh xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo tự khai ra những lần phạm tội khác khi chưa bị phát hiện; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng vụ án và các vấn đề liên quan khác:

- Về bồi thường thiệt hại:

+ Quá trình giải quyết, chị Tăng Thị Thu T và bà Thái Thị Kim T không yêu cầu bị cáo S bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

+ Quá trình điều tra và ngày 28/8/2023, chị Đoàn Thị L yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền 550.000 đồng, trị giá 03 cây thuốc lá của chị đã bị bị cáo S chiếm đoạt.

+ Quá trình điều tra và ngày 28/8/2023, anh Khương Minh B yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền 550.000 đồng, trị giá 03 cây thuốc của anh đã bị bị cáo S chiếm đoạt.

+ Tại đơn ngày 30/8/2023, anh Vũ Hoàng Ph yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền 550.000 đồng, trị giá 03 cây thuốc lá của anh đã bị bị cáo S chiếm đoạt.

+ Quá trình điều tra và ngày 28/8/2023, chị Nguyễn Thị L yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền 315.000 đồng, trị giá 02 cây thuốc lá của chị đã bị bị cáo S chiếm đoạt.

+ Quá trình điều tra và ngày 29/8/2023, bà Doãn Thị C yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền 315.000 đồng, trị giá 02 cây thuốc lá của bà đã bị bị cáo S đã chiếm đoạt.

+ Quá trình điều tra và ngày 28/8/2023, bà Huỳnh Thị K yêu cầu bị cáo S bồi thường 02 cây thuốc lá của bà đã bị bị cáo S chiếm đoạt theo kết quả định giá tài sản. Theo kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 08/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản thì 01 cây thuốc lá hiệu White Horse có giá là 235.000 đồng, 01 cây thuốc lá hiệu Prince có giá là 80.000 đồng, tổng cộng là 315.000 đồng.

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bị hại phù hợp với kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản, nên có cơ sở chấp nhận và buộc bị cáo S phải có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại.

- Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 04 đĩa DVD ghi lại hình ảnh bị cáo S chiếm đoạt tài sản của các bị hại.

- Các vấn đề liên quan khác:

+ Đối với việc bị cáo S khai sau khi bán được tài sản chiếm đoạt, bị cáo đến xã C, huyện P, tỉnh Quảng Nam mua ma túy của người đàn ông tên Sáu D và sử dụng tại huyện P, do sự việc xảy ra ở huyện P nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đã chuyển thông tin đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P để điều tra giải quyết theo thẩm quyền, là đúng pháp luật.

+ Đối với chị Phạm Thị Tr, anh Trương Duy Ph, chị Đinh Thị H đã có hành vi mua thuốc lá do bị cáo S bán, tuy nhiên chị Tr, anh Ph, chị H không biết rõ đây là thuốc lá do bị cáo phạm tội mà có, nên không xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

+ Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) mua thuốc lá do bị cáo S bán trước Ga K, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không có cơ sở để triệu tập lấy lời khai làm rõ.

+ Đối với việc anh Nguyễn Thanh C cho bị cáo S mượn xe mô tô biển số 92H8-5127 và chị Huỳnh Thị Yến Ph cho bị cáo S mượn xe mô tô biển số 92X1-022.86, tuy nhiên lúc cho mượn anh C và chị Ph không biết bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội, nên không xử lý đối với anh Nguyễn Thanh C, chị Huỳnh Thị Yến Ph và 02 chiếc xe mô tô này, là phù hợp.

+ Đối với số tiền 315.000 đồng (trị giá 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince) của chị Tăng Thị Thu T và số tiền 315.000 đồng (trị giá 01 cây thuốc lá hiệu White Horse và 01 cây thuốc lá hiệu Prince) của bà Thái Thị Kim T đã bị bị cáo S chiếm đoạt, sau đó bị cáo đã bán mua ma túy sử dụng và tiêu xài hết, chị T và bà T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền này.

Về án phí:

+ Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

+ Do yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bị hại được chấp nhận nên bị cáo S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn S phạm tội “Cướp giật tài sản”

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn S 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 18/4/2023).

[2] Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Nguyễn S phải bồi thường cho bị hại Đoàn Thị L số tiền 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng); bị hại Khương Minh B số tiền 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng); bị hại Vũ Hoàng Ph số tiền 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng); bị hại Nguyễn Thị L số tiền 315.000đ (Ba trăm mười lăm nghìn đồng); bị hại Doãn Thị C số tiền 315.000đ (Ba trăm mười lăm nghìn đồng); bị hại Huỳnh Thị K số tiền 315.000đ (Ba trăm mười lăm nghìn đồng).

- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 630.000đ (Sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 21, Điều 23, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

[3] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ