- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 107 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 83/2023/HS-ST Ngày: 25 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Nhung và bà Nguyễn Thị Lan;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân T phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân T phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Lò Văn Bia; giới tính: Nam; sinh ngày: 31 tháng 3 năm 2004, tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; con ông: Quàng Văn C và bà Lò Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Từ năm 2017 đến năm 2021, khi chưa đủ 18 tuổi đã 04 lần bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS, một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính "Đưa vào cơ sở giáo dưỡng" và một lần bị xử phạt hành chính bằng hình thức "Cảnh cáo" về hành vi trộm cắp tài sản (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tại 04 bản án và chấp hành xong các biện pháp xử lý hành chính); bị tạm giam từ ngày 27/10/2022 đến nay - Có mặt.
Người bị hại: Ông Nguyễn Minh K; địa chỉ: Tổ dân phố 03, phường T, thành phố Đ, tỉnh Đ - Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mai Quang H; địa chỉ: Tổ dân phố 03, phường T, thành phố Đ, tỉnh Đ - Vắng mặt;
- Bà Hoàng Thị K; địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường Đ, thành phố L, tỉnh L (hiện trú tại: Nhà nghỉ N, tổ dân phố 26, phường Đ, thành phố L, tỉnh L) - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 02 giờ 35 phút ngày 11/10/2022, bị cáo Lò Văn T đi bộ qua nhà nghỉ "Cây Tùng" thuộc tổ dân phố 2, phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Thấy cửa phụ nhà nghỉ mở, bị cáo đi vào thì thấy một xe mô tô hiệu WAVE RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 27P - 032.51 để ở gara xe; chìa khóa cắm trong ổ xe; bị cáo nẩy sinh ý định trộm cắp xe để bán lấy tiền chi tiêu và chơi điện tử. Quan sát thấy không có ai để ý, bị cáo dắt xe qua lối phụ rồi mở khóa điều khiển xe đi về hướng huyện Mường Chà. Trên đường đi, bị cáo mở cốp xe lấy đăng ký xe tên Mai Quang H, cầm cho một người đàn ông không quen biết ở ven đường được 70.000 đồng, dùng mua xăng xe và đồ ăn hết.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, bị cáo đến thành phố Lai Châu và vào nghỉ tại nhà nghỉ N của bà Hoàng Thị K; bị cáo đưa cho bà K giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô lấy trộm được rồi lên phòng nghỉ. Đến 16 giờ cùng ngày, bà K yêu cầu trả phòng, bị cáo nói quên tiền, nên bà K đưa cho bị cáo 100.000 đồng để bị cáo đi tacxi về lấy tiền; xe mô tô, chìa khóa xe và sổ thương binh tên Nguyễn Minh K trong cốp xe, bị cáo để lại nhà nghỉ rồi đi lang thang trên địa bàn thành phố Lai Châu.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận việc trộm cắp xe của mình; tang vật thu giữ gồm: Xe mô tô bị cáo đã trộm cắp, giấy chứng nhận bảo hiểm xe của ông H và sổ lĩnh tiền trợ cấp thương binh của ông K.
2. Các vấn đề khác:
Chiếc xe máy bị cáo trộm cắp là của ông H tặng cho ông K, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ vật chứng thu giữ được cho ông K, riêng giấy đăng ký xe không thu hồi được; ông K, ông H và bà K không yêu cầu bồi thường.
Kết luận định giá tài sản số 44/QĐ ngày 27/02/2022của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Xe máyWAVE RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 27P - 032.51 có trị giá 6.600.000 đồng.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận định giá trên.
3. Cáo trạng số 33/CT-VKSTPĐBP ngày 24/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản"; áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS: Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
4. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 02 giờ 35 phút ngày 11/10/2022, tại nhà nghỉ "Cây Tùng" thuộc tổ dân phố 2, phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu khi cắm chìa khóa trong ổ khóa xe và không có người trông coi, bị cáo Lò Văn T đã lén lút lấy trộm chiếc xe máy WAVE RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 27P - 032.51, trị giá 6.600.000 đồng của ông Nguyễn Minh K, với mục đích để bán lấy tiềm chi tiêu và chơi điện tử; bị cáo đi xe đến nghỉ tại nhà nghỉ Ngọc Anh của bà Hoàng Thị K ở thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; do không có tiền trả tiền phòng, bị cáo đã để lại nhà nghỉ xe, chìa khóa xe và sổ thương binh của ông K; cơ quan điều tra đã thu hồi trả cho chủ sở hữu.
Khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo đã nhiều lần kết án về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 BLHS; điều luật có khung hình phạt cao nhất là 03 năm tù, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được coi là không có án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS.
Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định: "Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữa đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu T tội "Trộm cắp tài sản"theo điều luật đã viện dẫn ở trên.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, ham chơi điện thử. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và bị xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng để phục vụ nhu cầu bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội; cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghệp và thu nhập ổn định, không có tài sản gì đáng kể, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, bồi thường dân sự và các vấn đề khác: Xe mô tô cùng giấy chứng nhận bảo hiểm và sổ thương binh đã được trả cho bị hại theo quy định của pháp luật; bị hại và những người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu bồi thường, nên không đề cập giải quyết về vật chứng và bồi thường dân sự; bà K không biết xe và giấy chứng nhận bảo hiểm xe bị cáo để lại nhà nghỉ của mình là tài sản trộm cắp, nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, ở xã đặc biệt khó khăn theo quyết định số 861/QĐ-Ttg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng chính phủ; tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 107; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 27/10/2022.
3. Vật chứng và bồi thương dân sự: Không đề cập giải quyết.
4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/4/2023; trường hợp những người này vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Ngời có QLNV LQ; - VKSND TP Điện Biên Phủ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQ CSĐT Công an TP Điện Biên Phủ; - Đội HSNV Công an TP Điện Biên Phủ; - CQ THAHS Công an TP Điện Biên Phủ; - Nhà tạm giữ CATP; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - HS Thi hành án HS; - Chi cục THADS TPĐiện Biên Phủ; - TAND tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ; - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |