vanban.org

Bản án 83/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 16/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2022. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Huỳnh Bảo L - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L phạm tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HS-ST
Ngày: 16-5-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Ông Trương Minh Thọ

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà: ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/TLST- HS ngày 28/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Huỳnh Bảo L, tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 5 năm 2003, tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: đường A, Phường B, thành phố C, tỉnh D; Chỗ ở: đường A, Phường B, thành phố C, tỉnh D; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Huỳnh Văn Th, sinh năm: 1967 và bà Đinh Thị M, sinh năm: 1977; tiền án, tiền sự: không. Bị b t tạm giam ngày 20/10/2022. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Chị Ngô Thị Ngọc H, sinh năm 1978. Trú tại: đường A, Phường B, thành phố C, tỉnh D. Có mặt tại phiên tòa.

- Chị Huỳnh Thị Thùy Tr, sinh năm 1981. Hộ khẩu thường trú: đường A, Phường B, thành phố C, tỉnh D. Địa chỉ liên lạc: đường A, Phường B, thành phố C, tỉnh D. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Đinh Huỳnh Bảo L không có công việc ổn định, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên L đã nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản của người người đi đường để bán lấy tiền tiêu xài. Trong khoảng thời gian từ ngày 25/6/2022 đến ngày 20/10/2022, L đã thực hiện 02 lần cướp giật tài sản tại thành phố Đà Lạt. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 21 giờ ngày 25/6/2022, Đinh Huỳnh Bảo L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 79N2-987.40, theo hướng đường A, Phường B, thành phố C, tỉnh D để về phòng trọ của L ở đường A, Phường B, thành phố C, tỉnh D. Khi L điều khiển xe mô tô tới khu vực ngã ba giao giữa đường Thông Thiên Học và đường Bùi Thị Xuân thì thấy chị Huỳnh Thị Thuỳ Tr (là khách du lịch) đang đi bộ phía trước, trên vai phải của chị Tr có đeo 01 túi xách màu đen nên L nảy sinh ý định đi theo chị Tr để cướp giật túi xách này. Thực hiện ý định, L điều khiển xe mô tô đi theo sau chị Tr khoảng 10m, đến giữa đoạn đường một chiều thấy v ng người qua lại nên L điều khiển xe mô tô áp sát từ phía sau dùng tay trái giật chiếc túi xách chị Tr đang cầm trên tay, do bị giật túi xách bất ngờ nên chị Tr ngã xuống đường. Sau khi giật được túi xách của chị Tr, L điều khiển xe chạy về khu liên hợp thể thao, phường 7, thành phố Đà Lạt để kiểm tra tài sản cướp giật được. L mở túi xách kiểm tra thấy bên trong có các tài sản gồm: 1000 Đô La Mỹ (10 tờ 100 đô); 100 Đô La Canada (2 tờ 50 Đô); số tiền 17.000.000 đồng (gồm các mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 50.000 đồng); 01 thẻ vàng 9999 loại 01 chỉ; 01 điện thoại Nokia phím bấm màu đen và các giấy tờ gồm: 01 thẻ Căn cước công dân; 02 thẻ ATM (không nhớ ngân hàng); giấy tờ xe; thẻ nhà báo. Sau đó, L cất tiền Đô la, tiền Việt Nam đồng, thẻ vàng vào trong người, số tài sản còn lại gồm giấy tờ, điện thoại Nokia và giỏ xách thì L vứt đi. Tiếp đó, L đem 01 thẻ vàng loại 01 chỉ, 1000 đô La Mĩ (10 tờ 100 đô), 100 Đô La Canada (2 tờ 50 Đô) đến một tiệm vàng (không rõ địa chỉ) ở khu Hòa Bình, phường 1, Đà Lạt bán được tổng cộng số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), toàn bộ số tiền bán được cùng với số tiền mặt 17.000.000 đồng L đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 13 ngày 08/02/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310 màu đen, loại phím bấm trị giá 633.000 đồng; 10 tờ tiền mệnh giá 100 USD trị giá 23.105.000 đồng; 2 tờ tiền mệnh giá 50 Đô la Canada trị giá 1.778.540 đồng; 01 chỉ vàng PNJ, loại vàng 9999 trị giá 5.360.000 đồng;

- Đối với các tài sản gồm: 01 khăn quàng cổ màu đỏ xanh, dài khoảng 1,2 m x 50 cm, không rõ nhãn hiệu; 01 chiếc ví bằng vải, kích thước 20cm x 12cm; 01 chiếc ví bằng da, kích thước 20cm x 10cm. Do không thu được vật chứng và không có thông tin cụ thể nên không có căn cứ để định giá.

Tổng giá trị tài sản Đinh Huỳnh Bảo L chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Thuỳ Tr là 47.876.540 đồng (bốn mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi đồng).

Bị hại chị Huỳnh Thị Thuỳ Tr yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị Tr số tiền 20.000.000 đồng, chị Tr yêu cầu được bồi thường thêm số tiền 30.000.000 đồng.

Lần thứ hai: Chiều ngày 20/10/2022, Đinh Huỳnh Bảo L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 79N2-987.40, màu đen xám đi lòng vòng quanh các tuyến đường tại thành phố Đà Lạt để tìm người đi đường có sơ hở để cướp giật tài sản. Đến khoảng 15h00 cùng ngày, L điều khiển xe mô tô đến đoạn đường Nguyễn Siêu đi Bạch Đằng, phường 7, thành phố Đà Lạt thì thấy chị Ngô Thị Ngọc H đang đeo 01 túi xách và đi vào tiệm làm tóc nên L nảy sinh ý định đợi chị H sơ hở để cướp giật chiếc túi xách. Sau đó, L đứng bên ngoài, cách tiệm làm tóc khoảng 50m đợi chị H, đến khoảng18h30, chị H đi ra khỏi tiệm làm tóc, trên tay phải cầm theo giỏ xách và đi bộ về phía ngã 3 cách đó 10 mét. Thấy vậy, L điều khiển xe mô tô áp sát bên phải chị H rồi nhanh chóng dùng tay trái giật giỏ xách của chị H đang cầm trên tay rồi bỏ chạy về khu liên hợp thể thao ở phường 7, thành phố Đà Lạt để kiểm tra tài sản cướp giật được. L mở túi xách thì thấy có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng (lúc này L chưa đếm tiền); 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 màu vàng; 01 hộp tai nghe màu tr ng gồm 02 tai nghe; 01 giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân, 01 thẻ ngân hàng đều mang tên Ngô Thị Ngọc H. Sau đó, L vứt chiếc túi xách rồi lấy toàn bộ số giấy tờ, tiền, điện thoại, tai nghe mang về phòng trọ ở M2 Cư xá hỏa xa, phường 10, thành phố Đà Lạt kiểm đếm số tiền cướp giật được là khoảng 13.000.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ ngày 20/10/2022, khi L đang điều khiển xe mô tô đi ăn uống thì bị lực lượng công an kiểm tra, thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 căn cước công dân số 068178000880; 01 chứng minh nhân dân số 250410711; 01 giấy phép lái xe số 681109681477; 01 thẻ ngân hàng số: 9704180000016155269. Tất cả đều mang tên Ngô Thị Ngọc H;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 79N2-98740, số máy: JA39E2182937, số khung: RLHJA392XMY065632;

- Số tiền 12.100.000đ (mười hai triệu một trăm nghìn đồng);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus;

Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 113 ngày 09/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, dung lượng 512 GB, trị giá 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- 01 hộp tai nghe, bên trong gồm 02 tai nghe không dây màu tr ng, nhãn hiệu Airpod 2 màu tr ng trị giá 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

- 01 túi xách bằng da màu đen, kích thước 20cm x 30cm, không rõ nhãn hiệu nên không có căn cứ định giá.

Tổng giá trị tài sản Đinh Huỳnh Bảo L chiếm đoạt của chị Ngô Thị Ngọc H là 34.400.000 đồng.

Bị hại: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Ngô Thị Ngọc H số tài sản gồm 12.100.000 đồng, 01 điện thoại di động, 01 hộp tai nghe, 01 giỏ xách màu đen và giấy tờ cá nhân cho chị Ngô Thị Ngọc H. Hiện nay, gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho chị H.

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ án này là: 82.276.540đ (tám mƣơi hai triệu hai trăm bảy mƣơi sáu ngàn năm trăm bốn mƣơi đồng).

Tại Bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 20/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L về tội “cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố và đề nghị:

Về hình phạt: Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù.

Về phần dân sự: Đề nghị công nhận thỏa thuận của bị cáo bồi thường cho chị Huỳnh Thị Thùy Tr số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu tr ng, số Sêri: F2LW54K1JCM4, đã qua sử dụng, đã vỡ mặt lưng, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 79N2-98740, số máy JA39E2182937, số khung: RLHJA392XMY065632.

Tại phiên tòa bị cáo không kH nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án nhẹ nhất.

Bị hại Huỳnh Thị Thùy Tr: Đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại Ngô Thị Ngọc H: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L có hành vi sử dụng xe mô tô tiếp cận chị Huỳnh Thị Thùy Tr và chị Ngô Thị Ngọc H để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của chị Tr và chị H, trị giá là 82.276.540đ (tám mươi hai triệu hai trăm bảy mươi sáu ngàn năm trăm bốn mươi đồng). Sau khi lấy được tài sản bị cáo đã sử dụng xe mô tô nhanh chóng tẩu thoát, hành vi của bị cáo đã đe dọa gây nguy hiểm về tính mạng, sức khỏe cho người bị hại. Vì vậy, hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội “cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo l ng trong quần chúng nhân dân nên xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm kh c, cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có phạm tội nhiều lần nên áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Tổng giá trị tài sản Đinh Huỳnh Bảo L chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Thuỳ Tr là 47.876.540 đồng (bốn mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi đồng). Chị Tr yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị Tr số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), chị Tr yêu cầu được bồi thường thêm số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên công nhận sự thỏa thuận của bị cáo bồi thường cho chị Huỳnh Thị Thuỳ Tr 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Chị Ngô Thị Ngọc H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

. Về vật chứng: Vật chứng thu giữ chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự ngày 29/3/2023 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu tr ng, số Sêri: F2LW54K1JCM4, đã qua sử dụng, đã vỡ mặt lưng là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 79N2-98740, số máy JA39E2182937, số khung: RLHJA392XMY065632 là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L phạm tội “Cướp giật tài sản”

2. Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2022.

3. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L bồi thường cho chị Huỳnh Thị Thùy Tr số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Trả lại cho bị cáo Đinh Huỳnh Bảo L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu tr ng, số Sêri: F2LW54K1JCM4, đã qua sử dụng, đã vỡ mặt lưng, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhản hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 79N2-98740, số máy JA39E2182937, số khung: RLHJA392XMY065632.

(Tất cả vật chứng trên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ