- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ - Bà Nguyễn Thị Kim S và ông Nguyễn Thái D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim S về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Thái D như sau:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23-8-2023 V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Lê.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Cần;
2. Bà Huỳnh Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 135/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: thôn T, xã R, huyện P, tỉnh Gia Lai; địa chỉ liên hệ: số 569 đại lộ Bình Dương, phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thái D, sinh năm 1987; địa chỉ thường trú: thôn Tao K, xã R, huyện P, tỉnh Gia Lai; địa chỉ tạm trú: tổ 3, khu phố B, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 3 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim S và ông Nguyễn Thái D chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị xã R, huyện P, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01/2013, ngày 09/12/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc không được bao lâu thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm trong làm ăn, cách thức nuôi dạy con cái, vợ chồng không tôn trọng và tin tưởng nhau. Vợ chồng đã ly thân. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Kim S yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thái D.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 05/7/2014. Hiện tại, con đang sống cùng bà S. Khi ly hôn, bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Dương có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 04 tháng 8 năm 2023 của bị đơn ông Nguyễn Thái D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thái D và bà Nguyễn Thị Kim S chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới như bà S trình bày. Vợ chồng sống rất hạnh phúc. Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống nên cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng. Hiện tại vợ chồng đã ly thân. Nay bà S yêu cầu ly hôn thì ông D đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 05/7/2014. Hiện tại, con đang sống cùng bà S. Khi ly hôn, ông D đồng ý để bà S trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con thì tuỳ theo khả năng thu nhập hàng tháng của ông D.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 04/8/2023 của cháu Nguyễn Ngọc Kim A trình bày: Nếu cha mẹ ly hôn, cháu A có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Nguyễn Thị Kim S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác minh thu thập, hòa giải được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của người tham gia tố tụng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim S được ly hôn với ông Nguyễn Thái D; về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 05/7/2014 cho bà S được trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chung: đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà S về việc không yêu cầu ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Kim S có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thái D và yêu cầu được quyền nuôi con sau khi ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo kết quả xác minh và quá trình giải quyết vụ án xác định, ông Nguyễn Thái D đăng ký tạm trú và sinh sống tại địa chỉ: tổ 3, khu phố B, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim S và bị đơn ông Nguyễn Thái D vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà S và ông D theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim S và ông Nguyễn Thái D chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện P, tỉnh Gia Lai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 30, quyển số 01/2013, ngày 09/12/2013. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng, không tin tưởng, không chung thủy với nhau và đã ly thân. Nay bà S yêu cầu được ly hôn, ông D đồng ý ly hôn.
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà S và ông D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Nguyễn Thị Kim S yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thái D là có căn cứ chấp nhận.
Về việc nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng bà S và ông D có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 05/7/2014. Hiện tại, con chung đang sống với bà S. Khi ly hôn, bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, ông D đồng ý.
Theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Cháu Nguyễn Ngọc Kim A có nguyện vọng được sống với mẹ và hiện tại cũng đang sống ổn định với mẹ. Xét thấy, yêu cầu được quyền nuôi con chung của bà S không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà S không yêu cầu ông Dcó nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà S nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 và Điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim S về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Nguyễn Thái D như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim S được ly hôn với ông Nguyễn Thái D.
- Về việc nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 05/7/2014 cho bà Nguyễn Thị Kim S được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thái D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Kim S và ông Nguyễn Thái D đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0007532 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Lê |