- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngàn Mỹ C. Chị Ngàn Mỹ C được ly hôn với anh Chen Xi H.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 124 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Đào
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hà Quế Phương
Bà Nguyễn Thị Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đường Hạc Vương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông La Minh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2021, Thông báo dời thời gian mở phiên tòa số 100/TB.TA, Thông báo số 201/TA-TB ngày 28 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngàn Mỹ C, sinh năm 1994.
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Chen Xi H, sinh năm 1984.
Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan)
Địa chỉ: đường Kiến Quốc Đ, khóm T, thôn Đ, xã S, huyện V, Đài Loan.
(Chị Ngàn Mỹ C, anh Chen Xi H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 19/5/2021 và tại bản tự khai chị Ngàn Mỹ C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Chen Xi H quen biết nhau dịp anh Chen Xi H đi du lịch tại Việt Nam. Sau thời gian tìm hiểu năm 2020 chị và anh Chen Xi H tổ chức tiệc cưới tại Việt Nam. Anh, chị tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 28/02/2020. Sau khi kết hôn chị và anh Chen Xi H không chung sống với nhau vì anh Chen Xi H về Đài Loan để sinh sống, làm việc và chuẩn bị các thủ tục để bảo lãnh chị qua Đài Loan, trong thời gian này chị vẫn sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Trong thời gian chuẩn bị làm thủ tục bảo lãnh thì dịch Covid19 diễn biến phức tạp nên anh Chen Xi H không thực hiện được thủ tục bảo lãnh cho chị. Thời gian chờ đợi chị không còn nguyện vọng sang Đài Loan sinh sống, anh Chen Xi H thì kiên quyết sống tại Đài Loan, không đồng ý về Việt Nam. Do thời gian tìm hiểu quá ngắn nên chị và anh Chen Xi H không thể hiểu hết được tính cách, quan điểm sống của nhau, vợ chồng thường xuyên sống xa cách dẫn đến không còn hạnh phúc. Chị và anh Chen Xi H đã xác định không còn tình cảm, bất đồng quan điểm. Nhận thấy, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chen Xi H.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Ngàn Mỹ C khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin vắng mặt ngày 28/02/2022 chị C đề nghị được vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án.
Bị đơn anh Chen Xi H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, không có lời khai.
- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Theo lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện hôn nhân giữa chị Ngàn Mỹ C và anh Chen Xi H là tự nguyện, được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 28/02/2020 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị Ngàn Mỹ C, anh Chen Xi H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sống cách xa nhau. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Việt Nam đã thực hiện gửi ủy thác tư pháp theo luật định cho anh Chen Xi H nhưng anh Chen Xi H không có thông tin phản hồi, thể hiện anh Chen Xi H không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh Chen Xi H và chị C. Nên việc chị C xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị C khai không có, anh Chen Xi H không có lời khai nên không xem xét giải quyết, tách ra giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Chị C phải chịu án phí sơ thẩm 300.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại thời điểm chị Ngàn Mỹ C nộp đơn xin ly hôn, anh Chen Xi H đang sống và có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai theo điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị C có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Chen Xi H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng bằng hình thức gửi ủy thác tư pháp theo luật định nhưng anh Chen Xi H không có mặt nên Tòa xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung: Chị Ngàn Mỹ C kết hôn với anh Chen Xi H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 28/02/2020. Sau khi kết hôn chị Ngãn Mỹ C sống tại Việt Nam, anh Chen Xi H sống tại Đài Loan. Thời gian sống xa cách, tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm, ngôn ngữ nên tình cảm vợ chồng không còn. Chị Ngàn Mỹ C nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Chen Xi H. Tòa án đã thực hiện gửi ủy thác tư pháp hợp lệ theo quy định các thủ tục tố tụng nhưng anh Chen Xi H không có ý kiến phản hồi thể hiện anh Chen Xi H không còn quan tâm đến hôn nhân với chị Ngàn Mỹ C. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian xa cách đã lâu, tình cảm không còn. Chị Ngàn Mỹ C xin được ly hôn với anh Chen Xi H là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngàn Mỹ C.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Ngàn Mỹ C trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Chen Xi H không có lời khai nên không xem xét giải quyết, giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Ngàn Mỹ C phải chịu án phí dân sự trong vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002679 ngày 27/5/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Chị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 37, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 469, Điều 470, Điều 474, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 123, Điều 124 và Điều 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngàn Mỹ C. Chị Ngàn Mỹ C được ly hôn với anh Chen Xi H.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Ngàn Mỹ C phải chịu án phí dân sự trong vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002679 ngày 27/5/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Chị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Ngàn Mỹ C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Anh Chen Xi H được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND T.Đồng Nai (1); - Cục THADS T.Đồng Nai (1); - UBND H.T (GCNKH số 41 ngày 28/02/2020) (1). - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1); - Các đương sự (2); - Lưu (6) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Xuân Đào |