vanban.org

Bản án 83/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Trương Thị P ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Giao con chung là cháu Nguyễn Trương Duy H1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2015 cho chị Trương Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay cháu H1 đang sống cùng với anh H. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Trương Thị P và anh Trần Văn H"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Trương Thị P ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC,
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-3-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

2. Ông Phạm Thành Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị P, sinh năm 1991; địa chỉ: 62 L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 11 năm 2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị P trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tìm hiểu 04 năm rồi tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 8 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về chung sống với cha mẹ chồng ở thôn B1, xã P. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vì anh H ghen tuông, đánh đập chị vô cớ. Sau đó chị biết được anh H có người phụ nữ khác ở bên ngoài nên chị đến nhà người này nói chuyện. Anh H biết việc chị gặp người tình của anh nên về nhà đánh đập chị. Không chịu được hành vi bạo lực của anh H nên chị ra ngoài thuê nhà sống riêng. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Trương Duy H1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2015. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Theo bản tự khai, anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh thống nhất về quá trình đi đến hôn nhân, tình trạng hôn nhân, con chung như chị Trương Thị P trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là vì chị P có người khác ở bên ngoài. Nay chị P ly hôn, anh đồng ý ly hôn. Anh yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn Trương Duy H1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2015 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị P ly hôn anh H đồng thời giao con chung cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trương Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Nguyễn Văn H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H đang cư trú tại thôn B1, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[3 Về hôn nhân: Chị Trương Thị P và anh Nguyễn Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 8 năm 2013 tại UBND xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định nên hôn nhân giữa chị P, anh H là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị P xin ly hôn, anh H đồng ý ly hôn mà không thể hiện ý kiến hàn gắn. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị P ly hôn anh H.

[4 Về quan hệ con chung: Chị P và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Trương Duy H1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2015. Hiện cháu H1 đang sống với anh H. Chị P và anh H yêu cầu được nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của cháu H1 là được sống với mẹ. Thời gian ly thân, mặc dù cháu H1 sống với anh H nhưng qua kết quả xác minh thì chị P vẫn thăm nom, chăm sóc con hằng ngày. Chị P vẫn đảm bảo các điều kiện để chăm sóc cháu H1 được phát triển bình thường. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu H1 cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5 Về tài sản chung và nợ: Chị P, anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6 Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Trương Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Cho chị Trương Thị P ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Giao con chung là cháu Nguyễn Trương Duy H1, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2015 cho chị Trương Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay cháu H1 đang sống cùng với anh H.

Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Chị Trương Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001402 ngày 03 tháng 02 năm 2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bảo án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ