vanban.org

Bản án 83/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Kiều Thị Kim K được ly hôn với ông Châu Văn L. Về con chung: Bà Kiều Thị Kim K có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung tên Châu Kiều Diễm P–sinh ngày 28/12/2013 và Châu Thành Đ–sinh ngày 17/12/2015. Ông Châu Văn L phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2023
V/v:"ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Minh.

2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen-Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài–Kiểm sát viên.

Ngày 30/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 170/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/6/2023 về việc "ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/8/2023,Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 15/8/2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Kiều Thị Kim K–sinh năm:1989 (có mặt).

Trú tại: Khu phố x, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Bị đơn: Ông Châu Văn L–sinh năm: 1988 (vắng mặt)

Trú tại: Khu phố x, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Hiện ở: Thôn H, xã P1, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Kiều Thị Kim K trình bày: Bà và ông Châu Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại UBND thị trấn P, huyện N. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, do bất đồng quan điểm sống, ngoài ra ông L có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không quan tâm gia đình. Từ tháng 02/2023, ông L bỏ nhà đi cho đến nay, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Về con chung có 02 người con chung tên Châu Kiều Diễm P–sinh ngày 28/12/2013 và Châu Thành Đ–sinh ngày 17/12/2015, trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân thì các con sống cùng với bà, ông L không quan tâm và cũng không chu cấp tiền nuôi con. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi các con và yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000đồng/1 người con cho đến khi các con chung trưởng thành.

Bị đơn ông Châu Văn L: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.

Chính quyền địa phương khu phố 13, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông L và bà K sinh sống xác nhận: ông L và bà K chung sống không hợp nhau, hiện vợ chồng đang sống ly thân, bà K đang nuôi con tại địa phương, còn ông L đi đâu không rõ.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Kiều Thị Kim K được ly hôn với ông Châu Văn L. Về con chung có 02 người con nên giao cho bà K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000đ/1 tháng/1 người con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bà Kiều Thị Kim K có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Châu Văn L, yêu cầu được nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đối với bị đơn ông Châu Văn L vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Kiều Thị Kim K và ông Châu Văn L tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 219, quyển số 02 ngày 19/9/2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm nhau.

Xét thấy, hôn nhân của giữa bà K và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà K.

Về con chung: Bà K và ông L có 02 người con chung tên Châu Kiều Diễm P–sinh ngày 28/12/2013 và Châu Thành Đ–sinh ngày 17/12/2015. Hiện các con đang sống cùng với bà K. Khi ly hôn bà K yêu cầu được nuôi các con và yêu cầu ông L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000đ/1 người con. Trong quá trình giải quyết vụ án bà K có cung cấp chứng cứ xác nhận ông L là giáo viên của Trường tiểu học thôn Lạc Nghiệp, xã Cà Ná, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận có thu nhập 6.832.210đồng (trong đó hệ số lương 2,67, mức lương cơ bản 4.806.000đồng và phụ cấp 2.026.210đồng, tính đến tháng 7 năm 2023).

Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông L vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà K, từ khi vợ chồng sống ly thân chính bà K đã trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con chung.

Xét thấy, hiện các con đang sống cùng với bà K và bà K chăm sóc con tốt, ông L không quan tâm đến con, không chu cấp tiền nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà K là cần thiết để đảm bảo cho các con phát triển được tốt. Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao 02 người con chung tên Châu Kiều Diễm P và Châu Thành Đ cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông L phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung theo định kỳ hàng tháng là 1.000.000đồng/1 người con, cho đến khi các con chung trưởng thành và lao động tự túc được.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà K không yêu cầu không xét.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Bà K và ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.Về hôn nhân: Bà Kiều Thị Kim K được ly hôn với ông Châu Văn L.

2.Về con chung: Bà Kiều Thị Kim K có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung tên Châu Kiều Diễm P–sinh ngày 28/12/2013 và Châu Thành Đ–sinh ngày 17/12/2015. Ông Châu Văn L phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung theo định kỳ hàng tháng là 1.000.000đồng/1 người con, cho đến khi các con chung trưởng thành và lao động tự túc được.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4.Về án phí: Bà Kiều Thị Kim K phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000945 ngày 14/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Kiều Thị Kim K đã nộp đủ án phí.

Ông Châu Văn L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về cấp dưỡng nuôi con).

5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ