- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ng - Hoàng Đức C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Hoàng Đức C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:83/2023/HNGĐ -ST Ngày 20/12/2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Duyên
2. Bà Vũ Thị Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang – thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương.
- Đại diện VKSND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 20/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2023/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐSXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1993
Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện X, tỉnh Thái Bình.
Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện X, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: anh Hoàng Đức C, sinh năm 1990
Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện X, tỉnh Thái Bình.
(chị Ng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày: chị và anh Nguyễn Ng C tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Kiến Xương vào ngày 11/8/2012. Quá trình chung sống do anh C ham chơi cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình nên thường phát sinh mâu thuẫn, mặc dù đã được gia đình khuyên giải nhưng anh C không thay đổi do vậy chị đã đưa hai con về nhà bố mẹ đẻ tại xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương ở từ tháng 8 năm 2023 đến nay. Chị không còn tình cảm với anh C, chung sống không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Về con chung: chị và anh C có hai con chung là Hoàng Yến Nhsinh ngày 16/8/2013 và Hoàng Quốc V, sinh ngày 25/9/2015, ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh C góp tiền cấp dưỡng nuôi con, hai con chung có nguyện vọng được ở với chị Ng. Chị làm công nhân tại công ty may V, địa chỉ xã T, huyện Kiến Xương thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/ tháng.
Về tài sản và nợ chung: không có, chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng anh C không đến làm việc theo giấy báo, cũng không gửi ý kiến về các nội dung khởi kiện của chị Ng.
Kết quả xác minh tại UBND xã V, huyện Kiến Xương thể hiện: quá trình chung sống do anh C ham chơi, không chịu khó lao động, thiếu trách nhiệm với gia đình nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị Ng và hai con đã về nhà bố mẹ đẻ tại xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương sinh sống. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương phát biểu quan điểm:
Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: đề nghị áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Hoàng Đức C. Giao hai con chung Yến Nh và Quốc V cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị Ng về việc không yêu cầu anh C góp tiền cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung không giải quyết trong vụ án này. Về án phí chị Ng phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Ng khởi kiện xin ly hôn anh Hoàng Đức C có nơi cư trú tại xã V, huyện Kiến Xương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị Ng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng Đức C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: chị Ng và anh C tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do anh C ham chơi, thiếu trách nhiệm với gia đình nên phát sinh mâu thuẫn, anh C và chị Ng đã sống ly thân, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Anh C biết việc chị Ng xin ly hôn nhưng bỏ mặc, không đến Tòa án làm việc cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị Ng. Như vậy chứng tỏ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Ng xử cho chị được ly hôn anh C.
Về quan hệ con chung: chị Ng có công việc, thu nhập ổn định và có trách nhiệm đối với con hơn anh C, nên giao hai con chung cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ng về việc không yêu cầu anh C góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: chị Ng khai không có, Tòa án không ghi được ý kiến của anh C nên về tài sản và nợ chung không giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1.Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn anh Hoàng Đức C.
2.Về quan hệ con chung: giao hai con chung Hoàng Yến Nh sinh ngày 16/8/2013 và Hoàng Quốc V, sinh ngày 25/9/2015 cho chị Nguyễn Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ng về việc không yêu cầu anh C góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh C có quyền thăm nom con chung. Chị Ng và anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản và nợ chung: không giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002010 ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, chị Ng đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - Chi cục THADS huyện Kiến Xương; - Các đương sự; - UBND xã V; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |