vanban.org

Bản án 83/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Xuân T về việc yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Chị Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Xuân T về việc yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Hiếu và ông Đặng Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Xuân T - Sinh năm 1994.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T - Sinh năm 1992.

Cùng địa chỉ: thôn 1, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/3/2023, bản khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân T khai:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Thanh T cưới nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu, không bị ai ép buộc cả. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, không cảm thông và chia sẻ cho nhau, cuộc sống vợ chồng không cảm thấy hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Xuân T – Sinh ngày 18/11/2015 và Nguyễn Thị Thanh V – Sinh ngày 11/11/2017. Hiện các con đang ở với chị T.

Chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Xuân T – Sinh ngày 18/11/2015 và Nguyễn Thị Thanh V – Sinh ngày 11/11/2017, chị T không yêu cầu anh Thuần cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, hòa giải theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 1, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Xuân T vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 07/7/2023. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Xuân T và anh Nguyễn Thanh T cưới nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tại Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2015, quyển số 01/2015 ngày 13/5/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời chị T, vợ chồng chị sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm sống, không cảm thông và chia sẻ cho nhau, cuộc sống vợ chồng không cảm thấy hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với anh T.

Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T nhưng anh T cố tình lẩn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa không tiến hành hòa giải vụ án được. Việc đó thể hiện việc anh T không thực hiện, tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị Xuân T và anh Nguyễn Thanh T thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy, yêu cầu được ly hôn của chị T là có căn cứ nên chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng T – Thuần có 02 con chung tên Nguyễn Thị Xuân T – Sinh ngày 18/11/2015 và Nguyễn Thị Thanh V – Sinh ngày 11/11/2017. Hiện các con đang ở với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu nuôi con của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi sinh ra cho đến khi vợ chồng mâu thuẫn, các con vẫn sống cùng chị T. Chị T vẫn chăm lo cho các bé đầy đủ. Tại bản tự ghi ý kiến của cháu T thì cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Vì vậy, việc giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Xuân T – Sinh ngày 18/11/2015 và Nguyễn Thị Thanh V – Sinh ngày 11/11/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của cháu T và tránh sự xáo trộn đối với các cháu.

Về vấn đề cấp dưỡng: chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Thanh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Anh Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Xuân T về việc yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Chị Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung:

Chị Nguyễn Thị Xuân T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thị Xuân T – Sinh ngày 18/11/2015 và Nguyễn Thị Thanh V – Sinh ngày 11/11/2017. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Thanh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Thảo đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014484 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

Anh Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Cỡ chữ