- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị V và Lê Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị V và anh Lê Văn Đ
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:83/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-8-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bốn;
Bà Hoàng Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 85/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị V, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm Th, xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định“vắng mặt”.
- Bị đơn: Anh Lê Văn Điềm, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm Th, xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định“vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 27-4-2023, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị V trình bày: Chị và anh Lê Văn Đ tự nguyện tìm hiểu đã được UBND xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15-3-2017. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn Đ.Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 04-02-2017. Khi ly hôn chị nhận nuôi con, không yêu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại đơn đề nghị ngày 12-7-2023, bà Vũ Thị H là mẹ đẻ của anh Lê Văn Đ có ý kiến như sau: Anh Đ và chị V kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã Gi. Mâu thuẫn vợ chồng là do chị V không quan tâm đến con cái. Chị V và anh Đ có 01 con chung là Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 04-02-2017, nguyện vọng của anh Đ là được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng, vợ chồng không có tài sản gì. Bà đã nhận các văn bản tố tụng Tòa án gửi và đã thông báo đồng thời giao lại cho con bà là anh Đ. Nay chị V có đơn ly hôn quan điểm của anh Đ nhất trí ly hôn.
Tại biên bản làm việc ngày 13-6-2023, đại diện chính quyền địa phương cùng đoàn thể, cơ sở xã Gi cung cấp: Chị Phạm Thị V và anh Lê Văn Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gi vào năm 2016. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do hai bên không hợp nhau. Chị V và anh Đ có 01 con chung là Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 04-02-2017; vợ chồng không vướng mắc gì về kinh tế đối với địa phương. Nay chị V có đơn ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Phạm Thị Vân ly hôn anh Lê Văn Đ.Giao con chung là Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 04-02-2017 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng; Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị V có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị V và anh Lê Văn Đ tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Gi, huyện Gi vào ngày 15-3-2017 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, nếu kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, chấp nhận nguyện vọng của chị V xin ly hôn anh Điềm là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Phạm Thị V và anh Lê Văn Đ có 01 con chung là Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 04-02-2017. Căn cứ nguyện vọng của các đương sự và để đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung, vì vậy nên giao con chung cho chị V nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm. Chị V, anh Đ có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị V và anh Lê Văn Đ
2. Về con chung: Giao chị Phạm Thị V trực tiếp nuôi con chung là: Lê
Huỳnh Đ, sinh ngày 04-02-2017. Anh Lê Văn Đ không phải cấp dưỡng
nuôi con chung cho chị V, nhưng anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom
con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị V phải nộp 300.000 đồng. Chị V đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0000522 ngày 12-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy; nay đối trừ, chị Vân đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị V và anh Lê Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - UBND xã Gi; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Phạm Thanh Lâm |