vanban.org

Bản án 83/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Hữu N.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Tô Hữu N được ly hôn với chị Trần Thị L. Về con chung: Giao con chung Tô Tiểu Thơ (nữ), sinh ngày 01/10/2009 cho chị Trần Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Tô Hữu N không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nghị Lộc"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Hữu N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:83/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-7-2023
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hoa Lài

2. Ông Nguyễn Kim Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Dung – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tưởng – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2023/TL.ST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/QĐST – HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Tô Hữu N, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1992

Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn anh Tô Hữu N trình bày: Anh và chị Trần Thị L tiến đến hôn nhân năm 2008, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật năm 2015. Quá trình chung sống hạnh phúc được đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không còn tình cảm nên cả hai không tìm được tiếng nói chung, khiến hôn nhân rơi vào trầm trọng, không còn hạnh phúc và đã ly thân từ 2016 đến nay. Nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị L.

Về con chung: Có 01 con chung Tô Tiểu Thơ (nữ), sinh ngày 01/10/2009. Hiện con chung đang sống cùng chị L. Sau khi ly hôn, anh N đồng ý để chị L tiếp tục nuôi cháu Thơ, anh tự nguyện cấp dưỡng con theo quy định pháp luật cho đến khi cháu Thơ đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án chị Trần Thị L vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử N án là tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định pháp luật, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 228, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung giải quyết vụ án: Về hôn nhân anh N và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm, không tìm được tiếng nói chung và đã ly thân, nay anh N yêu cầu ly hôn với chị L, chị L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến về việc ly hôn nên đề N Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N. Về con chung, có 01 con chung Tô Tiểu Thơ (nữ), sinh ngày 01/10/2009. Hiện con chung đang sống cùng chị L, anh N đồng ý để chị L nuôi con chung nên đề N Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung của chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh N tự nguyện cấp dưỡng theo quy định pháp luật nên đề N Hội đồng xét xử chấp nhận mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung: Anh N khai không có, chị L chưa ghi nhận được ý kiến nên chưa xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Anh Tô Hữu N và chị Trần Thị L do phát sinh mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và gia đình mà không thể hàn gắn tình cảm được với nhau nên anh N nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị L, do chị L có nơi cư trú tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Tô Hữu N có đơn xin vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp.

Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: Giữa anh Tô Hữu N và chị Trần Thị L được xây dựng trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống anh N cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn, không còn tình cảm nên hôn nhân không còn hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Từ khi ly thân đến nay anh N và chị L không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng, khi anh N nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, Tòa án đã tiến hành mời các bên hòa giải để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng phía chị L vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Vì vậy, nhận thấy hôn nhân của anh, chị đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tô Hữu N.

Về con chung: Có 01 con chung Tô Tiểu Thơ (nữ), sinh ngày 01/10/2009. Từ khi ly thân đến nay con chung đang sống chung với chị L, anh N đồng ý để chị L tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thơ nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh N giao cháu Thơ cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Tô Hữu N không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật cho đến khi cháu Thơ đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, cụ thể bằng ½ mức lương cơ sở (hiện tại mức lương cơ sở 1.800.000 đồng), tương đương số tiền 900.000 đồng/tháng (mức cấp dưỡng thay đổi theo mức lương cơ sở).

Về tài sản chung, nợ chung: Anh N khai không có, chị L chưa ghi nhận được ý kiến nên chưa xem xét giải quyết 02 vấn đề này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Về án phí: Anh Tô Hữu N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của N quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tô Hữu N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Tô Hữu N được ly hôn với chị Trần Thị L.

2. Về con chung: Giao con chung Tô Tiểu Thơ (nữ), sinh ngày 01/10/2009 cho chị Trần Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Tô Hữu N không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Tô Hữu N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật, cụ thể 900.000 đồng/tháng (mức cấp dưỡng thay đổi theo mức lương cơ sở), cấp dưỡng cho đến khi cháu Tô Tiểu Thơ đủ 18 tuổi.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: anh Tô Hữu N phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp theo biên lai số 0002081 ngày 27/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (anh N đã nộp xong). Anh Tô Hữu N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại nơi cư trú.

7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ