vanban.org

Bản án 83/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/04/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

2010 (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16/10/2010 của Quốc Hội); kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2023/DS-ST
Ngày: 04/4/2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Tý;

2. Bà Bùi Diệu Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Mai.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 371/2022/TLST-

DS ngày 07 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa

các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N. Trụ sở: 54A

Nguyễn Chí Thanh, quận Đ Đ, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên lạc: Tầng 23 Tòa nhà

TNR số 180-192 đường Nguyễn C Tr, phường Nguyễn T B, Quận 1, Thành phố Hồ

Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L, chức danh: Tổng giám

đốc. Người đại diện theo uỷ quyền ông Võ Minh Th, sinh năm: 1983 theo văn bản

uỷ quyền số 5736/2022/GUQ-TGĐ12 ngày 04/8/2022.

2. Bị đơn: Bà Châu Thị Hồng L, sinh năm: 1967. Địa chỉ: 213/20/10 đường Lê

Đình Cẩn, khu phố 5, Phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Võ Minh Th có mặt, bà Châu Thị Hồng L có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp cho Toà án, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ

khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Võ Minh Th trình bày: ngày

21/11/2017 Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N và bà Châu Thị Hồng L

đã ký kết hợp đồng cho vay số 1758473/2017/HĐCV, số tiền vay là 150.000.000

(một trăm năm mươi triệu) đồng, lãi suất vay là 19%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân và gia đình, thời hạn vay 60 tháng. Phương thức trả nợ: trả gốc và trả lãi hàng tháng, khoản vay không có tài sản bảo đảm.

Thực hiện hợp đồng: ngày 21/11/2017 Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng

Hải V N đã giải ngân cho bà Châu Thị Hồng L theo Hợp đồng cho vay số: 1758473/2017/HĐCV với số tiền 150.000.000 đồng. Từ ngày 07/01/2018 bà Châu Thị Hồng L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Trong quá trình vay vốn bà Châu Thị Hồng L đã thanh toán được 35.390.000 (ba mươi lăm triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng, trong đó trả nợ gốc: 32.390.000 (ba mươi hai triệu, ba trăm chín mươi nghìn) đồng và trả nợ lãi: 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Do bà Châu Thị Hồng L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nhiều lần Ngân hàng

Thương mại cổ phần Hàng Hải V N thông báo, nhắc nhở thanh toán nhưng bà Châu Thị Hồng L không có thiện chí trả nợ. Vì vậy, ngày 07/01/2018 Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 2.375%/tháng (được tính: 19%* 150%).

Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, kế hoạch trả nợ với Ngân

hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N của bà Châu Thị Hồng L đã vi phạm các điều khoản cam kết trong hợp đồng tín dụng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Hàng Hải V N yêu cầu Tòa án buộc bà Châu Thị Hồng L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 04/4/2023 là 324.304.914 (ba trăm hai mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn nghìn chín trăm mười bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 117.610.000 (một trăm mười bảy triệu sáu trăm mười nghìn) đồng, lãi trong hạn: 641.667 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng, lãi quá hạn: 206.053.247 (hai trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng. Trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà Châu Thị Hồng L trả nợ vì khi ký hợp

đồng cho vay, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N chỉ ký hợp đồng với cá nhân bà Châu Thị Hồng L, ngoài ra Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N không yêu cầu ai khác phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên.

Bà Châu Thị Hồng L không thế chấp bất kì giấy tờ gì cho Ngân hàng Thương

mại cổ phần Hàng Hải V N, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N cũng không giữ bản chính giấy tờ gì của bà Châu Thị Hồng L.

Bị đơn bà Châu Thị Hồng L trình bày:

Bà xác nhận có ký Hợp đồng cho vay số 1758473/2017/HĐCV ngày

21/11/2017 với Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N để vay số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng. Bà đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N số tiền 35.390.000 (ba mươi lăm triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng, trong đó trả nợ gốc: 32.390.000 (ba mươi hai triệu, ba trăm chín mươi nghìn) đồng và trả nợ lãi: 3.000.000 (ba triệu) đồng. Hiện nay bà còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N tổng số tiền 324.304.914 (ba trăm hai mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn nghìn chín trăm mười bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 117.610.000 (một trăm mười bảy triệu sáu trăm mười nghìn) đồng, lãi trong hạn:

641.667 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng, lãi quá hạn:

206.053.247 (hai trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm mươi ba nghìn hai trăm bốn

mươi bảy) đồng. Do hiện nay công việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên bà không có

khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng, vì vậy bà đề nghị được trả góp theo từng

tháng, mỗi tháng là 2.000.000 triệu đồng cho đến khi trả hết khoản nợ trên. Đối với

số tiền lãi bà đề nghị ngân hàng giảm lãi cho bà.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Châu Thị Hồng L phải trả cho Ngân

hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 04/4/2023

là 324.304.914 (ba trăm hai mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn nghìn chín trăm mười

bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 117.610.000 (một trăm mười bảy triệu sáu trăm mười

nghìn) đồng, lãi trong hạn: 641.667 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu

mươi bảy) đồng, lãi quá hạn: 206.053.247 (hai trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm

mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng. Trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực

pháp luật.

- Bị đơn yêu cầu được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi trả hết

khoản nợ trên và yêu cầu nguyên đơn giảm lãi.

- Các đương sự đều không nộp thêm chứng cứ mới cho Tòa án và không yêu

cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà

và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: xét Hợp đồng cho vay giữa

Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N và bà Châu Thị Hồng L là quan hệ

hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân với mục đích vay là tiêu dùng cho cá

nhân được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do tranh chấp được

quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc loại kiện về tranh chấp Dân sự

nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại

điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Châu Thị Hồng L cư trú

tại quận Bình Tân nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình

Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố

tụng dân sự.

- Về thủ tục tố tụng: do cá nhân bà Châu Thị Hồng L giao dịch với Ngân

hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N, nguyên đơn chỉ khởi kiện yêu cầu bà

Châu Thị Hồng L trả tiền, ngoài ra không yêu cầu ai khác phải có trách nhiệm trả

khoản nợ trên. Bà Châu Thị Hồng L cũng xác định đây là khoản nợ do cá nhân bà ký

kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ

xem xét trách nhiệm trả nợ của cá nhân bà Châu Thị Hồng L đối với Ngân hàng

Thương mại cổ phần Hàng Hải V N.

Về nội dung vụ án:

- Yêu cầu của nguyên đơn: buộc bị đơn bà Châu Thị Hồng L phải trả số tiền nợ

tính đến ngày 04/4/2023 là 324.304.914 (ba trăm hai mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn nghìn chín trăm mười bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 117.610.000 (một trăm mười bảy triệu sáu trăm mười nghìn) đồng, lãi trong hạn: 641.667 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng, lãi quá hạn: 206.053.247 (hai trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng. Đối với lãi suất áp dụng trong việc chậm trả thi hành án thì nguyên đơn yêu cầu áp dụng mức lãi suất theo như thỏa thuận trong hợp đồng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: căn cứ vào hợp đồng

cho vay số 1758473/2017/HĐCV ngày 21/11/2022 được ký kết giữa bà Châu Thị Hồng L và Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N, giấy nhận nợ ngày 21/11/2017, bảng tóm tắt sao kê lịch sử giao dịch và thanh toán, có cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N đã cho bà Châu Thị Hồng L vay số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, lãi suất là 19%/năm. Xét về hình thức, hợp đồng tín dụng nói trên được lập thành văn bản, phù hợp với quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Về mặt nội dung, chủ thể giao kết hợp đồng - Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N là một tổ chức tín dụng, được phép cấp tín dụng; bà Châu Thị Hồng L là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N và bà Châu Thị Hồng L tự nguyện giao kết hợp đồng. Do đó, hợp đồng phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên.

Thực hiện hợp đồng: sau khi Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N

giải ngân khoản tiền vay, bà Châu Thị Hồng L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 07/01/2018. Trong quá trình vay vốn bà Châu Thị Hồng L đã thanh toán được 35.390.000 (ba mươi lăm triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng, trong đó trả nợ gốc: 32.390.000 (ba mươi hai triệu, ba trăm chín mươi nghìn) đồng và trả nợ lãi: 3.000.000 (ba triệu) đồng. Như vậy số tiền nợ gốc bà Châu Thị Hồng L còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N tính đến ngày 04/4/2023 là 117.610.000 (một trăm mười bảy triệu sáu trăm mười nghìn) đồng. Do bà Châu Thị Hồng L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn và yêu cầu Tòa án buộc bà Châu Thị Hồng L phải thanh toán tiền nợ gốc nêu trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà Châu Thị Hồng L xác định còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc là 117.610.000

(một trăm mười bảy triệu sáu trăm mười nghìn) đồng và bà yêu cầu được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi trả dứt khoản nợ trên và ngân hàng không đồng ý với phương thức trả nợ của bà Châu Thị Hồng L. Xét, yêu cầu của bà Châu Thị Hồng L, Hội đồng xét xử nhận định: bà Liên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 07/01/2018 và cho đến thời điểm xét xử bà Liên mới trả cho ngân hàng được 35.390.000 (ba mươi lăm triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng, trong đó trả nợ gốc: 32.390.000 (ba mươi hai triệu, ba trăm chín mươi nghìn) đồng và trả nợ lãi: 3.000.000 (ba triệu) đồng. Điều này chứng tỏ bà Liên đã vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận được ghi trong hợp đồng vay. Khoản nợ của bà Liên đã kéo dài trong nhiều năm đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, vì vậy bà Liên

yêu cầu được trả dần khoản nợ trên mỗi tháng 2.000.000 đồng là không có cơ sở

chấp nhận.

Bà Châu Thị Hồng L không trả nợ cho ngân hàng theo đúng thỏa thuận ghi

trong hợp đồng vay là vi phạm hợp đồng vay đã ký kết giữa các bên; căn cứ khoản 1

Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N

được quyền chấm dứt cấp tín dụng và thu hồi nợ trước hạn. Do đó, nguyên đơn yêu

cầu bà Châu Thị Hồng L phải trả toàn bộ số nợ trên một lần sau khi bản án có hiệu

lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu trả lãi: Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N tính lãi

quá hạn dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên trong Hợp đồng vay tiền số

1758473/2017/HĐCV ngày 21/11/2017 và khế ước nhận nợ ngày 21/11/2017; thỏa

thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do

đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N yêu cầu bà Châu Thị Hồng L có

nghĩa vụ trả số tiền nợ lãi là 206.694.914 đồng, trong đó lãi trong hạn là 641.667

đồng, lãi quá hạn là: 206.053.247 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp

nhận.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu được chấp nhận nên Ngân hàng

Thương mại cổ phần Hàng Hải V N không phải nộp án phí, hoàn trả cho nguyên đơn

toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bà Châu Thị Hồng L phải nộp án phí tính trên số tiền phải trả là 324.304.914

đồng (ba trăm hai mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn nghìn chín trăm mười bốn đồng) số

tiền là 16.215.246 (mười sáu triệu hai trăm mười lăm nghìn hai trăm bốn mươi sáu)

đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39,

Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 và khoản

1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm

2010 (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16/10/2010 của Quốc Hội);

Căn cứ Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành

kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Châu Thị Hồng L phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng

Hải V N số tiền nợ là 324.304.914 (ba trăm hai mươi bốn triệu ba trăm lẻ bốn nghìn chín trăm mười bốn) đồng, trong đó nợ gốc: 117.610.000 (một trăm mười bảy triệu sáu trăm mười nghìn) đồng, lãi trong hạn: 641.667 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng, lãi quá hạn: 206.053.247 (hai trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng; trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 05/4/2023 trở đi cho đến khi trả hết nợ

gốc theo mức lãi suất thỏa thuận được quy định tại Hợp đồng vay tiền số 1758473/2017/HĐCV ngày 21/11/2017 và khế ước nhận nợ ngày 21/11/2017 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Châu Thị Hồng L phải nộp 16.215.246 (mười

sáu triệu hai trăm mười lăm nghìn hai trăm bốn mươi sáu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải V N số tiền tạm ứng

án phí là 7.156.879 (bảy triệu một trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm bảy mươi chín) đồng theo biên lai số AA/2022/0010180 ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Các đương sự thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền và thời hạn kháng cáo: đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền

kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ