vanban.org

Bản án 83/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 27/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thanh T 01 (Một) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/4/2022. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, chị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu Hoàng Thanh T không trả chị H số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:83/2022/HS-ST
Ngày 27-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và bà Lê Thị Bích Thuần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thịnh Thùy, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2022 /TLST-HS ngày 8 tháng 7năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2022/QĐXXST-HS ngày15 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Thanh T, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2000; hộ khẩu thường trú: tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Viết T và bà Hà Thị U; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 33/2018/HS-ST ngày 31/07/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Cướp giật tài sản”. Bị can đã chấp hành xong thời gian thử thách ngày 31/01/202; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại T tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

- Bị hại: anh Tẩn A T, sinh năm 1994

Địa chỉ: tại thôn P, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang ,“vắng mặt”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Hoàng Văn M, sinh năm 2002

Địa chỉ: tại thôn Bản T, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang,“vắng mặt”.

-Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995

Địa chỉ: thôn Đ, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc,“ vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thanh T và anh Tẩm A T và Hoàng Văn M, là thợ ốp đá cùng thuê trọ tại tổ dân phố T, TT Đ, huyện B. Quá trình sống cùng dãy nhà trọ, T biết anh M có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số IMEI: 356741082175307 nên T nảy sinh ý định lừa lấy chiếc điện thoại để đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 07h30 phút ngày 11/04/2022, T từ phòng trọ của mình sang phòng trọ của anh T và anh M, lúc này anh M đang ngủ, anh T đang nằm trên giường sử dụng điện thoại của anh M thì T nói với anh T “anh cho em mượn điện thoại em nhắn tin với người yêu”, anh T tin là thật rồi đưa điện thoại cho T. Sau đó T cầm chiếc điện thoại đi thẳng đến cửa hàng điện thoại T tại đường H, phường T,thành phố P do chị Nguyễn Thị H làm chủ. Tại đây T nói dối với chị H là T có chiếc điện thoại di động do hết tiền tiêu nên đem bán. Chị H thấy T có mật khẩu mở máy nên tin và đồng ý mua với giá 4.000.000đồng, toàn bộ số tiền này T sử dụng nạp thể chơi game hết. Thấy T không trả lại điện thoại anh T và anh M đã liên lạc nhiều lần và đi tìm T để đòi lại điện thoại nhưng không được. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, thấy T về anh M gặp đòi lại điện thoại nhưng T cho biết điện thoại đã cầm cố hẹn có tiền sẽ chuộc lại trả anh M rồi bỏ đi khỏi phòng trọ. Biết mình bị lừa anh M có đơn trình báo Công an huyện Bình Xuyên. Sau khi biết anh M đã trình báo sự việc, sáng ngày 12/04/2022 T đã đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 12/04/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Xuyên đã tạm giữ tại cửa hàng điện thoại T do chị Nguyễn Thị H làm chủ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng có ốp màu xanh rêu, số IMEI: 356741082175307 để điều tra, xử lý theo luật định.

Ngày 14/04/2022 và ngày 26/5/2022, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Xuyên định giá đối với chiếc điện thoại di động T đã chiếm đoạt của anh M. Tại Kết luận định giá số 44, 55/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2022 và ngày 27/5/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Xuyên kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng trị giá: 4.833.000đồng; Chiếc ốp lưng bằng nhựa màu xanh rêu trị giá: 16.670 đồng; Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt: 4.849.760 đồng

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone X max màu trắng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn M. Ngày 01/06/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho anh M. Sau khi nhận lại tài sản anh M không có yêu cầu, đề nghị gì.

Chị Nguyễn Thị H là chủ cửa hàng điện thoại T đề nghị T phải hoàn trả số tiền 4.000.000 đồng nên cần buộc T phải hoàn trả cho chị H số tiền trên.

Đối với Nguyễn Thị H là người đã mua chiếc điện thoại di động. Khi trao đổi mua bán T nói dối là tài sản của mình và cung cấp được mật khẩu mở máy nên chij H đã tin và mua tài sản mà không biết nguồn gốc tài sản do T phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Xuyên và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số 81/KSĐT - KT ngày 8 tháng 07 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố bị cáo Hoàng Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với:- Bị cáo Hoàng Thanh T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/4/2022. Buộc Hoàng Thanh T phải hoàn trả cho chị H phải hoàn trả số tiền 4.000.000 đồng và án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã khai đầy đủ phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và sự việc xảy ra đúng như lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Hoàng Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, bị cáo khai nhận: Bằng thủ đoạn gian dối vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/04/2022 Hoàng Thanh T đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng có ốp màu xanh rêu của anh Hoàng Văn M để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; chiếc điện thoại và ốp điện thoại có trị giá là 4.849.670đồng.

[3] Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Hoàng Thanh T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù.

[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và bị cáo đã ra đầu thú; tuy nhiên, bị cáo T là đối tượng có nhân thân xấu, năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”, nhưng T không lấy đó là bài học mà tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tù để cách ly các bị cáo khỏi xã hội mới đủ để răn đe và giáo dục mới đủ giúp cho bị cáo cải tạo trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone X max màu trắng và ốp điện thoại; quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn M. Ngày 01/06/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho anh M. Sau khi nhận lại tài sản anh M không có yêu cầu, đề nghị gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Nguyễn Thị H là chủ cửa hàng điện thoại T đề nghị T phải hoàn trả số tiền 4.000.000 đồng; vì vậy, buộc T phải hoàn trả cho chị H số tiền 4.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị H là người đã mua chiếc điện thoại di động, khi trao đổi mua bán T nói dối là tài sản của mình và cung cấp được mật khẩu mở máy nên chị H đã tin và mua tài sản mà không biết nguồn gốc tài sản do T phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thanh T 01 (Một) năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12/4/2022.

Áp dụng Điều 584, 585, 588 và 589 của Bộ luật dân sự 2015: Buộc Hoàng Thanh T phải hoàn trả cho chị H phải hoàn trả số tiền 4.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, chị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu Hoàng Thanh T không trả chị H số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bố bị cáo Hoàng Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự../.

Cỡ chữ