vanban.org

Bản án 83/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2021/HS-ST ngày 28-12-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người” Xử phạt: Nguyễn Văn L 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/07/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2021/HS-ST ngày 28-12-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2022/HS-PT
Ngày: 22-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán:

Ông Trần Quốc Cường

Ông Nguyễn Cường

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 22 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 64/2022/TLPT-HS ngày 08 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn L bị tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “ Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2021/HS-ST ngày 28 - 12 -2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn L; Sinh năm: 1988 tại Gia Lai. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: = thành phố P, tỉnh Gia Lai. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; Vợ: Lê Thị Thu L, sinh năm 1993; có 02 người con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt ngày 02/07/2021 tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trịnh Xuân T là luật sư của Văn phòng luật sư B, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2013, Nguyễn Văn L và chị Lê Thị Thu L đăng ký kết hôn và có hai con chung là cháu Nguyễn Lê N N (sinh năm 2014) và Nguyễn Lê Bảo N (sinh năm 2019). Khoảng tháng 6/2020, Nguyễn Văn L nghi ngờ chị Lê Thị Thu L có quan hệ tình cảm với người khác nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 4/2021, chị Lê Thị Thu L làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân thành phố P đề nghị giải quyết xin ly hôn với Nguyễn Văn L, nhưng L không đồng ý và nhiều lần nói chuyện với chị L để muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 02/7/2021, Nguyễn Văn L đến nơi chị L làm việc tại địa chỉ số 201 đường Ư, thành phố P, tỉnh Gia Lai để nói chuyện, nhưng giữa L và chị L tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau nên L bỏ đi. Sau đó, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển kiểm soát 81B1-280.25 đến Cửa hàng xăng dầu số 1 thuộc Công ty xăng dầu B, địa chỉ: thành phố P, tỉnh Gia Lai mua15.000đ (Mười lăm nghìn đồng) tiền xăng loại A95, đựng trong chai nhựa nhãn hiệu AQUAFINA thể tích 1,5l, L dùng điện thoại chụp ảnh hình chai xăng rồi gửi qua Zalo cho chị L với tin nhắn “hết cơ hội.!”; “Xong nhé”, rồi đi đón hai con là cháu Nguyễn Lê N N và Nguyễn Lê Bảo N đến thuê phòng số 103 của Nhà nghỉ X trên thành phố P, tỉnh Gia Lai. Tại đây, L dùng điện thoại chụp ảnh cháu N và cháu N đang nằm chơi trên giường rồi gửi qua Zalo cho chị L với tin nhắn “Sống không cùng nhau thì chết sẽ cùng nhau, nhìn mặt lần cuối đi”. Khi nhận tin nhắn, chị L xác định L và hai con đang ở Nhà nghỉ 61 nên đã điện thoại báo cho ông Nguyễn Văn L (là cha đẻ của L) đến Công an phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai trình báo. Ông L Nhà nghỉ 61 gặp và khuyên L giữ bình tĩnh, cùng lúc này Tổ công tác của Công an phường H gồm các đồng chí Vũ Mạnh T, Vũ Đức Đ cũng có mặt động viên và yêu cầu L mở cửa nhưng L không mở mà yêu cầu được gặp chị L. Khi thấy chị L đến, L đứng trong phòng nói chuyện với chị L qua cửa sổ, L hỏi chị L: “anh là gì của em” nhưng chị L không trả lời nên L đã đổ xăng ra nền nhà và dùng bật lửa đốt thì xăng cháy ngay cửa ra vào. Thấy vậy, tổ công tác Công an phường H đã dùng bình chữa cháy dập lửa và đạp cửa phòng nhưng chưa mở được cửa. L liền đổ xăng lên người của cháu N và cháu N đang ngồi trên giường, mục đích châm lửa đốt hai cháu N và N, L cầm bật lửa trên tay và nói “Đừng vào tôi đốt”. Ngay lúc này, lực lượng Công an đã sử dụng bình chữa cháy xịt vào phòng và phá cửa xông vào kịp thời khống chế L nên L chưa kịp châm lửa đốt, hai cháu N và N được đưa ra ngoài an toàn.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra tại phòng số 103 nhà nghỉ X trên phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

* Kết quả giám định:

Tại Bản kết luận giám định số 1105/C09C-Đ2 ngày 30/9/2021 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:

- Trên ga trải giường màu xanh và áo khoác màu đỏ được niêm phong trong túi nilông, mã số NS1 2017552; trên Quần áo trẻ em (màu xanh, tím, hồng) được niêm phong trong túi nilông, mã số NS3 203519 và trên Chai nhựa dán nhãn hiệu AQUAFINA (loại 1,5 lít, trong chai không chứa dung dịch) được niêm phong trong túi nilông, mã số NS1 2017551: Đều tìm thấy dấu vết của xăng.

- Bộ quần áo màu da cam được niêm phong trong túi nilông, mã số NS1 2017553: Không tìm thấy dấu vết của xăng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2021/ HS-ST ngày 05/8/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định:

1. Căn cứ vào điểm a, b, n, l khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự 2015;

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người”

Xử phạt: Nguyễn Văn L 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/07/2021.

Trong hạn luật định bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo, vẫn giữ nguyên nội dung đơn xin kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn xin kháng cáo của bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện và đầy đủ chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do bị cáo và chị L mâu thuẫn tình cảm dẫn đến chị L làm đơn ly hôn. Tối ngày 01-7-2021 bị cáo có có nhắn tin cho chị L với nội dung “cùng nhau sống hết quãng đời còn lại hay cùng nhau kết thúc cuộc đời”, “không có con và em cuộc đời sống vô nghĩa”. Do chị L không trả lời, nên khoảng 13 giờ 25 phút, ngày 02/07/2021 bị cáo đến nơi chị L làm việc tại địa chỉ số 201 đường Ư, thành phố P, tỉnh Gia Lai để nói chuyện, nhưng giữa chị L và bị cáo tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau nên bị cáo bỏ về có mua 15.000đ tiền xăng loại A95 đựng trong chai nhựa, rồi đi đón hai con là N, N đến thuê phòng trọ số 103 của Nhà nghỉ X trên phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, dùng điện thoại chụp chai xăng và 2 con là cháu N và cháu N gửi qua Zalo cho chị L cùng với các tin nhắn “hết cơ hội.!”; “Xong nhé”; “Sống không cùng nhau thì chết sẽ cùng nhau, nhìn mặt lần cuối đi”. Khi chị L biết tin báo cho bố của bị cáo là ông L cùng với tổ công tác Công an phường H đến động viên, khuyên ngăn; bị cáo đề nghị được gặp chị L để nói chuyện, khi nhìn thấy chị L bị cáo nói qua cửa sổ“anh là gì của em” nhưng chị L không trả lời nên bị cáo có đổ một nắp xăng ra nền nhà sát cửa ra vào dùng bật lửa đốt cháy ra cửa thì được tổ công tác dùng bình chữa cháy dập tắt; sau đó do hoảng loạn bị cáo cầm bình xăng đứng trên giường làm đổ xăng lên áo 02 con và trên ga nệm giường, tay cầm bật lửa nói dọa đừng vào tôi đốt, thì tổ công tác đạp cửa xông vào bắt giữ.

Với những hành vi nêu trên bị cáo bị Tòa án cáp sơ thẩm xét xử về tội “Giết người” là có căn cứ đúng pháp luật

. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L là đặc biệt nguy hiểm, thể hiện thái độ hung hãn, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại là chính con của bị cáo.

Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời áp dụng đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng để xử phạt bị cáo 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù theo quy định tại các điểm a, b, n, l khoản 1 Điều 123 BLHS là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới cho bị cáo được hưởng; do vậy đơn kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ được chấp nhận.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2021/HS-ST ngày 28-12-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

1. Căn cứ vào điểm a, b, n, l khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự 2015;

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người”

Xử phạt: Nguyễn Văn L 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/07/2021.

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.

Cỡ chữ