vanban.org

Bản án 83/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quố…

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị M đượ c ly hôn anh Nguyễ n Sĩ L. Về con chung: Giao cháu Nguyễ n Thị Hoa, sinh ngà y 24/6/2018 cho chị Đỗ Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Mừng khởi kiện xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quố…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-9-2022
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn La

2. Ông Nguyễ n Quang Vinh

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 243/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1989 - (Vắ ng mặ t)

Địa chỉ: Thôn Lẻ , xã Xuân Hương, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang

*Bị đơn: Anh Nguyễ n Sĩ L, sinh năm 1985 - (Vắ ng mặ t)

ĐKHKTT: Thôn Lẻ , xã Xuân Hương, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang

Hiệ n nay đang chấ p hà nh á n tạ i Độ i 17, Phân trạ i số 3, Trại giam Phú Sơn 4, xã Sơn Cẩm, huyệ n Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

(Chị M, anh L vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Đỗ Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Sĩ L trướ c khi đăng ký kế t hôn đượ c tự do tì m hiể u và tự nguyệ n đăng ký kế t hôn tạ i UBND xã Xuân Hư ơng vào ngày 29/9/2017. Sau khi kế t hôn chị về nhà anh L chung số ng cù ng gia đì nh anh L và sau 02 tháng thì vợ chồng chị ra ở riêng . Vợ chồ ng chung số ng hạ nh phúc được gần một năm thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan đ

iể m số ng. Năm 2018 anh L xô xá t vớ i anh em nộ i tộ c nên bị bắ t tạ m giam và phả i đi chấ p hành án 15 năm tù về tộ i giế t ngườ i , anh L hiệ n nay đang chấ p hà nh á n tạ i Độ i 17, Phân trạ i số 3, Trại giam Phú Sơn 4, xã Sơn Cẩm , huyệ n Phú Lương , tỉnh Thái Nguyên. Nay bả n thân chị xá c đị nh không cò n tì nh cả m vớ i anh L, quan hệ hôn nhân giữ a chị và anh L không thể duy trì đượ c nữ a , chị đề nghị Toà án giải quyế t cho chị đượ c ly hôn anh L.

Về con chung: Trong quá trì nh chung số ng, chị và anh L có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoa , sinh ngà y 24/6/2018. Khi ly hôn chị đề nghị Toà á n giả i quyế t cho chị đượ c trự c tiế p trông nom , chăm só c, nuôi dưỡ ng con chung . Bản thân chị đang đi là m công nhân tạ i Công ty may Bắ c Giang , thu nhậ p khoả ng 6.000.000đ/tháng, đủ điề u kiệ n đả m bả o cuộ c số ng củ a 02 mẹ con nên chị không yêu cầ u anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc nên chị làm đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin vắng mặt tại Tòa án.

* Bị đơn anh Nguyễ n Sĩ L trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 18/8/2022 như sau:

Về quan hệ hôn nhân : Trướ c khi kế t hôn anh và chị M đượ c tự do tì m hiể u và tự nguyệ n đăng ký kế t hôn tạ i UBND xã Xuân Hương. Quá trình chung số ng anh và chị M không xả y ra mâu thuẫ n. Nay chị M làm đơn khởi kiện xin ly hôn thì anh không đồ ng ý ly hôn vì chị M số ng bạ c tì nh phụ nghĩ a vớ i anh và làm khổ con. Bản thân anh không có lỗ i vớ i chị M. Việ c chị M xin ly hôn anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Giữ a anh và chị M có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoa , sinh ngà y 24/6/2018. Trườ ng hợ p Toà á n giả i quyế t cho chị M ly hôn vớ i anh thì anh đề nghị Toà án giao con chung Nguyễn Thị Hoa cho chị M nuôi dưỡ ng vì bản thân anh đang phải đi chấp hành án không thể trự c tiế p chăm só c nuôi con đượ c. Về cấ p dưỡ ng nuôi con anh không yêu cầ u Toà á n giả i quyế t.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tà i sả n: anh L không yêu cầ u Toà á n giải quyết.

Do hiện nay anh đang phả i chấ p hà nh á n nên anh x in vắng mặt toàn bộ trong quá trình giải quyết vụ án. Anh đề nghị Toà á n giao cá c văn bả n tố tụ ng và bản án cho bố đẻ anh là ông Nguyễn Văn Hiệp, sinh năm 1958; đị a chỉ : Thôn Lẻ, xã Xuân Hương, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang nhận thay cho anh.

* Tòa án xác minh với đại diện chính quyền địa phương thì thấy: Anh L và chị M là vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp. Hiệ n nay anh L đang đi chấ p hành án nên không có mặ t tạ i đị a phương . Đị a phương không nắ m đượ c nguyên nhân mâu thuẫ n củ a vợ chồ ng anh chị . Giữ a anh L và chị M có 01 con chung Nguyễ n Thị Hoa, sinh năm 2018. Hiệ n nay chá u Hoa đang số ng cù ng chị M, chị M hiệ n nay không chung số ng cù ng gia đì nh nhà chồ ng . Địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Qua xá c minh vớ i ông Nguyễ n Văn Hiệ p (bố đẻ củ a anh L) thì biết: Sau khi chị M và anh L kế t hôn năm 2017, sau khi kế t hôn thì ông cho anh chị ra ở riêng. Năm 2018, anh L vi phạ m phá p luậ t nên phả i đi chấ p hà nh á n , chị M ở riêng không ở cù ng gia đì nh ông. Cách đây khoảng 02 năm, chị M có về nhà ông gây gổ , đạ p phá xoong nồ i, bàn ghế thì có xảy ra xô xát và ông cũng báo sự việ c cho mẹ đẻ củ a chị M biế t sự việ c. Hiệ n nay chị M và con gái đã thuê nhà trọ để ở, không về nhà ông. Ông đề nghị Toà á n giả i quyế t theo quy đị nh phá p luậ t.

Do chị M và anh L đều có đơn xin từ chối hòa giải và xin vắng mặt tại Toà án nên không tiến hành hòa giải được vụ án.

* Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị Đỗ Thị M, bị đơn anh Nguyễ n Sĩ L đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên toà đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn xin vắng mặt, nên HĐXX xét xử là đúng. Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ vợ chồng xử cho chị M được ly hôn anh L; Về con chung: Giao cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con là Nguyễ n Thị Hoa , sinh ngày 24/6/2018. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không phả i cấ p dưỡ ng nuôi con chung do chị M không yêu cầ u . Về sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản : Các đương sự không yêu cầ u nên đề nghị không xem xét.

Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

- Kiế n nghị , khắ c phụ c: Không có .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị M cùng các tài liệu nộp theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức, nội dung đơn khởi kiện. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình cụ thể là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễ n Sĩ L trước khi bị tạm giam có hộ khẩu cư trú tại Thôn Lẻ , xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

. Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành nghiêm túc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang ngày 29/9/2017 nên quan hệ hôn nhân của chị M và anh L là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Chị M xác định vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân là do chị và anh L bấ t đồ ng quan điể m số ng , anh L xác định v ợ chồng không có mâu thuẫ n nhưng anh L cho rằ ng chị M là người bạc tình p hụ nghĩa nên anh không đồ ng ý ly hôn . Cho đến nay, chị M xác định chị không còn tình cảm với anh L, hôn nhân giữ a chị và anh L không thể ké o dà i và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, việ c chị M không còn tình cảm, anh L phải chấp hành án với mức án dài (15 năm tù ), vợ chồ ng không ở cùng nhau, nên việ c duy trì hôn nhân không không đạt mục đích. Do đó, HĐXX quyết định áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Đỗ Thị M đượ c ly hôn anh Nguyễ n Sĩ L.

. Về con chung: Chị M và anh L đều thừa nhận trong quá trình chung số ng, vợ chồ ng có 01 con chung là Nguyễ n Thị Ngọc, sinh ngà y 24/6/2018. Khi ly hôn chị M đề nghị Toà án giao con chung cho chị trực tiếp trô ng nom, chăm sóc, nuôi dưỡ ng, anh L đồng ý để chị M nuôi con chung, HĐXX xét thấy: Hiện nay anh L đang phải chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4, anh L đồng ý để chị M nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Cháu Ngọc hiện nay đang được chị M chăm sóc nên đ ể đảm bảo quyền lợi của con chung nên cần giao cho chị M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp theo quy định tại khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầ u anh L cấ p dưỡ ng nuôi con nên anh L không phả i cấ p dưỡ ng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh L có quyền thăm nom con chung và không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị M đượ c ly hôn anh Nguyễ n Sĩ L.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễ n Thị Hoa, sinh ngà y 24/6/2018 cho chị Đỗ Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về cấ p dưỡ ng nuôi con chung : Anh L không phả i cấ p dưỡ ng nuôi con chung cù ng chị M.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012437 ngày 27/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị M đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị M, anh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ