vanban.org

Bản án 83/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị M

được ly hôn với anh Lưu Công T. Về con chung: Giao cháu Lưu Gia Ch, sinh ngày 26/6/2012 cho anh Lưu Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "phan thị my - lưu công tuệ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị M
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 15-7-2022.
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN - TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Đến

Bà Võ Thị Hồng Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 38/2022/TLST–HNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị M, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện H, tỉnh B. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lưu Công T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện H, tỉnh B. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, chị Phan Thị M là nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị M và anh Lưu Công T có tổ chức đám

cưới trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh B vào ngày 08/01/2013. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng không ở chung một nhà với nhau từ tháng 04 năm 2020 cho đến nay. Nay chị M nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T

Về quan hệ con chung: Chị M xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh T có 01 người con chung là cháu Lưu Gia Ch, sinh ngày 26/6/2012. Hiện tại cháu Ch đang sống với cùng anh T nên chị M đồng ý cho anh T nuôi con và xin không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lưu Công T: Tòa án có tiến hành giao Thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với ông Tuệ nhưng anh T không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao Thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh T được. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định pháp luật cho anh T. Chính quyền địa phươg xác định: Anh Lưu Công T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp B, xã L, huyện H, tỉnh B và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh T có về địa phương một lần.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn; Về nội dung: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, những quy định của pháp luật, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị M được ly hôn với anh Lưu Công T. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Lưu Gia Ch, sinh ngày 26/6/2012 cho canh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng chị M được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Về quan hệ tài sản: Chị M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Chị Phan Thị M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lưu Công T và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lưu Công T có nơi đăng ký thường trú tại Ấp B, xã L, huyện H, tỉnh B nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn chị Phan Thị M có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, anh

Lưu Công T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Xét đơn khởi kiện xin ly hôn của chị M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Phan Thị M và anh Lưu Công T, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 08/01/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị M với anh T có phát sinh mâu do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hiện cả hai không sống chung một nhà thời gian dài nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị M được ly hôn với anh T.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị M xác định giữa chị và anh T có 01 con chung là cháu Lưu Gia Ch, sinh ngày 26/6/2012. Hiện tại cháu Ch đang sống với cùng anh T nên chị M đồng ý cho anh T nuôi con và xin không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Ch hiện đang sống ổn định với anh T nên giao cháu Ch cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về quan hệ tài sản: Chị Phan Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Phan Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị M

được ly hôn với anh Lưu Công T.

2. Về con chung: Giao cháu Lưu Gia Ch, sinh ngày 26/6/2012 cho anh Lưu

Công T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Phan Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng chị M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Chị Phan Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên

không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Chị Phan Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006121 ngày 09/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay được chuyển thu án phí.

Chị Phan Thị M và anh Lưu Công T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ