- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức P phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Phương phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2021/HS-ST Ngày: 24-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Xuân Thụ.
- Ông Hoàng Tuyển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2021/TLST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2020/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức P, sinh năm 1983 tại tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Lâm T, sinh năm 1957 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1959; có vợ là Tạ Thị T, sinh năm 1984 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/8/2021 tại nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’Leo; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1971; địa chỉ: Buôn B, thị trấn E, huyện
E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Ngọc N; tên gọi khác: C; sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
+ Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị H’; tên gọi khác: Mí T; sinh năm 1984; địa chỉ: Buôn B, thị trấn E, huyện E, Đắk Lắk; vắng mặt.
+ Anh N, sinh năm 1978 và chị H’K, sinh năm 1981; cùng địa chỉ: Tổ dân phố 8, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức P đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình, đến đầu năm 2020, Phương đến địa bàn huyện Ea H’Leo quen và sống như vợ chồng với chị H’R ở Buôn B, thị trấn E, huyện E. Vào khoảng 18 giờ ngày 06/7/2021, P đến nhà bà H’Kở tổ dân phố 8, thị trấn E ngồi nhậu với anh Nguyễn Văn P, đối tượng tên Y Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và một số người khác. Nhậu được một lúc, do hết rượu nên P đã mượn xe mô tô biển số 47D1-290.90 của anh P để đi mua rượu; sau khi mua được rượu, P đến nhà của Phạm Văn Đ ở tổ dân phố 9, thị trấn E, huyện E để rủ Đ đi uống rượu; tại đây P dùng chìa khóa mở cốp xe mô tô ra thấy bên trong có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, chứng minh nhân dân và thẻ bảo hiểm đều mang tên của anh P, P lấy bỏ vào trong túi quần của mình rồi điều khiển xe mô tô về nhà bà H’K trả chìa khóa xe và xe mô tô cho anh P rồi tiếp tục nhậu với mọi người được một lúc thì anh P bị say nên đi ra ghế của gia đình bà H gần chỗ mọi người ngồi nhậu nằm ngủ. Lúc này, vào khoảng 20 giờ cùng ngày, P nhìn thấy chìa khóa xe mô tô trong túi quần của anh P bị rơi ra, P nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô và lấy chìa khóa xe bỏ vào túi quần của mình và gọi Y Đ ra ngoài sân nói với Y Đ đã lấy được giấy chứng nhận đăng ký và chìa khóa xe, giờ mang đi bán thì Y Đ đồng ý. P và Y Đ đi tới chỗ để xe dắt ra ngoài khởi động máy rồi đi đến nhà anh Đ nhưng sợ bị phát hiện nên P và Y Đ lại quay về nhà H nhậu tiếp cùng với mọi người. Nhậu được một lúc nữa, thấy mọi người đã say, P lấy xe mô tô của anh P chở Y Đ đến chòi rẫy của một người dân ở buôn KD, xã E, huyện E và ngủ lại ở đây. Khoảng 09 giờ ngày 07/7/2021, Ph và Y Đ mang chiếc xe mô tô trên đến bán cho Nguyễn Ngọc N (là nhân viên của cửa hàng phụ tùng xe máy Ngọc Hưng) ở tổ dân phố 3, thị trấn Ea Drăng, được 3.000.000 đồng; số tiền này P cho Phạm Văn Đ 200.000 đồng, cho Y Đ300.000 đồng, còn lại P tiêu xài cá nhân.
Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 523/BB-ĐGTS, ngày 27/8/2021, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Ea H’Leo, kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 47D1-290.90, tại thời điểm ngày 06/7/2021, có giá trị là: 10.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKS, ngày 02/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố bị cáo Nguyễn Đức P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo quyết định truy tố sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2021.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn P và anh Nguyễn Ngọc N không yêu cầu gì nên không đề cập xử lý.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Công an huyện Ea H’Leo đã trả lại 01 chiếc xe mô tô biển số 47D1 - 290.90 cho anh Nguyễn Văn P là chủ sở hữu. Cần truy thu của Nguyễn Đức P số tiền 2.800.000 đồng, đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc trộm cắp để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với Y Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ giải quyết.
Bị cáo Nguyễn Đức P không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Đức P đồng ý với nội dung truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Vào khoảng 20 giờ ngày 06/7/2021 tại nhà bà H’Kr thuộc tổ dân phố 8, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Đức P cùng đối tượng Y Đ đã thực hiện hành vi trộm chiếc xe mô tô biển số 47D1 - 290.90 của anh Nguyễn Văn P, đến ngày 07/7/2021 bán cho anh Nguyễn Ngọc N với giá 3.000.000 đồng. Trị giá chiếc xe mô tô được xác định là 10.500.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ pháp luật để kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại Điều luật nêu trên quy định:
1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài nhưng không phải lao động chính đáng, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng. Vì vậy, cần áp dụng đối với bị cáo một hình phạt thật nghiêm, để trừng trị răn đe đối với bị cáo. Ngoài ra, còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu. Như vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc N không yêu cầu nên không đề cập, xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Công an huyện Ea H’Leo đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 47D1 - 290.90 cho anh Nguyễn Văn P là chủ sở hữu hợp pháp. Cần truy thu của Nguyễn Đức P số tiền 2.800.000 đồng, đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có được để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với đối tượng Y Đ, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ giải quyết. Khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với Phạm Văn Đ không biết bị cáo P và đối tượng Y Đ trộm cắp chiếc xe mô tô của anh P, nên không có căn cứ để giải quyết.
Về án phí hình sự: Cần buộc bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Phương phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2021.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc N không yêu cầu gì nên không đề cập xem xét, giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận việc Công an huyện Ea H’Leo đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 47D1 - 290.90 cho anh Nguyễn Văn P là chủ sở hữu hợp pháp. Truy thu của Nguyễn Đức P số tiền 2.800.000 đồng, đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp mà có được để sung vào ngân sách nhà nước.
5. Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo Nguyễn Đức P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ giám đốc kiểm tra I); - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Ea H’Leo; - Cơ quan thi hành án hình sự CA huyện Ea H’Leo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện E; - Bộ phận thi hành án hình sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Đăng Khoa |