- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Ức Q và đồng phạm phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đỗ Ức Q 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 07/7/2020.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2021/HS-ST Ngày 19 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Cao Đức
Bà Lý Ngọc Mạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2021 tại tr s Tòa án nh n d n Qu n 8 Thành phố Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 37/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 97/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Ức Q; sinh năm 1996, tại Thành phố Ch Minh; nơi cư trú: 756/1/4 Đ, Phường 16 Qu n 4 Thành phố Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Võ M và bà Tô Thị Kim O; vợ con: Chưa có; tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 07/7/2020 đến nay. (có mặt)
2. Dương Thanh P; sinh năm 1996, tại Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp 19 xã V huyện T tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T và bà Trần Thị G; vợ con: Chưa có; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 30/01/2019 Tòa án nh n d n huyện Bình Chánh Thành phố Ch Minh kết án 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 26/2019/ S-ST). Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 21/01/2020.
Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 07/7/2020 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Ngọc A sinh năm 1988; nơi cư trú: 16 Q phường Q, qu n B Thành phố à Nội. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 07/7/2020, Đỗ Ức Q điều khiển xe gắn máy biển số 51F3-1393 ch Dương Thanh P lưu thông trên đường H hướng từ cầu Y về cầu H. Khi đến ngã tư đường L – H, Phường 8, Qu n 8, Thành Phố H Chí Minh, Q nhìn thấy chị Nguyễn Thị Ngọc A đang ng i trên xe mô tô Grab do anh Nguyễn Hoàng A1 điều khiển đi từ đường Lê Quang Kim ra đường ưng Phú hướng về Cầu chữ Y Phường 8, Qu n 8, trên tay chị Ngọc A đang sử d ng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max. Thấy v y nên Q rủ P gi t chiếc điện thoại trên thì P đ ng ý. Q điều khiển xe quay ngược lại áp sát vào phía bên trái chị Ngọc A, r i P dùng tay phải gi t được chiếc điện thoại trên. Thấy P đã chiếm đoạt được tài sản, Q điều khiển xe máy ch P bỏ chạy về hướng cầu chữ Y.
Bị gi t tài sản, chị Ngọc A truy hô nên anh Hoàng A1 điều khiển xe ch chị Ngọc A đuổi theo. Khi Q ch P đến trước số 141 H, Phường 8, Qu n 8 thì xe của Q va chạm với xe gắn máy của người đi đường nên bị ngã người dân cùng bảo vệ dân phố bắt giữ Q và P cùng v t chứng giao cho công an Phường 8, Qu n 8 l p biên bản bắt người phạm tội quả tang. V việc được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để điều tra, làm rõ.
Ngày 21/7/2020, Hội đ ng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết lu n: 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu trắng đã qua sử d ng có giá là 18.500.000 đ ng.
Ngày 08/7/2020 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả lại điện thoại trên cho chị Ngọc A đ ng thời chị Ngọc A không yêu cầu các bị cáo b i thường thiệt hại.
Quá trình điều tra, Đỗ Ức Q và Dương Thanh P đã khai nh n hành vi phạm tội như trên.
Xe gắn máy biển số 51F3-1393 do các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Qua xác minh, xe có thông tin người đăng ký là Phạm Văn T (sinh năm 1954; địa chỉ: 242/109/17 N, Phường 3, Qu n 3). Tuy nhiên, xác minh tại Công an Phường 3, Qu n 3 thể hiện không có ai tên Phạm Văn T đăng ký thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Q khai xe này của một người tên T1 (không rõ lai lịch) cho Q làm phương tiện đi lại vào năm 2019. Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 đã có văn bản đề nghị đăng báo tìm chủ s hữu đối với xe gắn máy nêu trên nhưng chưa có kết quả.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSQ8 ngày 05/02/2021, Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Thành phố Ch Minh truy tố các bị cáo Đỗ Ức Q, Dương Thanh P về tội “Cướp gi t tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Thành phố Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Đỗ Ức Q, Dương Thanh P về tội “Cướp gi t tài sản”. Sau khi ph n t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị như sau:
- Đối với bị cáo Đỗ Ức Q: Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù;
- Đối với bị cáo Dương Thanh P: Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 05 năm tù;
- Không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý v t chứng đề nghị đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe gắn máy biển số 51F3-1393 theo quy định pháp lu t. Về trách nhiệm d n sự bị hại không có yêu cầu b i thường nên không đề c p giải quyết.
Các bị cáo không có ý kiến tranh lu n; các bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa ội đ ng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định vào khoảng 19 giờ ngày 07/7/2020 tại ngã tư đường Lê Quang Kim – ưng Phú Phường 8, Qu n 8, Thành Phố H Chí Minh, các bị cáo Đỗ Ức Q và Dương Thanh P có hành vi điều khiển xe gắn máy công khai chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max trị giá là 18.500.000 đ ng của chị Nguyễn Thị Ngọc A r i nhanh chóng tẩu thoát nhưng sau đó bị bắt quả tang. Các bị cáo sử d ng xe gắn máy làm phương tiện phạm tội đ y là tình tiết định khung hình phạt “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” của tội “Cướp gi t tài sản”.
Điều 171 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp gi t tài sản” như sau:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
…
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã x m phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp lu t bảo vệ. Như v y ội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Đỗ Ức Q và Dương Thanh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp gi t tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
ành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c các bị cáo tr thành người có ch có ý thức tu n theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cướp gi t tài sản” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nh n d n Qu n 8 đề nghị áp d ng đối với các bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu h i trả cho bị hại thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” vì v y ội đ ng xét xử áp d ng các điểm h s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo. Bị cáo Q chưa có tiền án tiền sự nên ội đ ng xét xử áp d ng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo.
Năm 2019 bị cáo P bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo chưa được xóa án t ch nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” đ y là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có t nh chất đ ng phạm nhưng chỉ mang t nh nhất thời giản đơn. Bị cáo Q là người rủ rê và điều khiển xe để bị cáo P ng i sau trực tiếp chiếm đoạt tài sản. Do đó khi lượng hình ội đ ng xét xử căn cứ Điều 58 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình phạt phù hợp với t nh chất vai trò từng bị cáo.
Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên ội đ ng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý v t chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max là tài sản bị chiếm đoạt đã thu h i được. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại đ ng thời bị hại không có ý kiến yêu cầu liên quan đến việc xử lý v t chứng nên ội đ ng xét xử không xem xét.
Xe gắn máy biển số 51F3-1393 là phương tiện phạm tội tạm giữ của bị cáo Q do chưa xác định được chủ s hữu nên cần tiếp t c đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp xe trên trong thời hạn 01 năm hết thời hạn trên không có người nh n hợp pháp thì tịch thu nộp ng n sách Nhà nước.
Về trách nhiệm d n sự bị hại đã nh n lại tài sản và không có yêu cầu các bị cáo b i thường thiệt hại nên ội đ ng xét xử không xem xét.
Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đỗ Ức Q 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 07/7/2020.
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Dương Thanh P 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 07/7/2020.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t ình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; các điều 221 228 của Bộ lu t D n sự.
Tiếp t c tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của 01 (một) xe gắn máy biển số 51F3-1393 số khung: CT100F1211255 số máy: CT100E1211367 nếu hết thời hạn trên không tìm được chủ s hữu người quản lý hợp pháp thì tịch thu nộp ng n sách Nhà nước.
(Theo Biên bản giao nh n v t chứng ngày 03/02/2021 tại Chi c c Thi hành án d n sự Qu n 8).
- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo Đỗ Ức Q và Dương Thanh P nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Qu n 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Qu n 8; - CQ T A S CA Qu n 8; - Nhà tạm giữ CA Qu n 8; - Chi c c T A DS Qu n 8; - Người tham gia tố t ng khác; - TA ND TP.HCM; - S Tư pháp TP. CM; - PC53; - Lưu: S VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |