- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xử cho ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Ngô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15-9-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Thư
Ông Vũ Văn Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Ngô Văn T sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Đội 7, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt khi tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 7 năm 2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn với nhau do tự nguyện, được tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kim Đính, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương năm 2002. Sau cưới vợ chồng chung sống tại thôn Do Nha, xã Tân Tiến, huyện An Dương. Cuộc sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, nhiều lần xảy ra tranh cãi nhau. Nay tình cảm không còn, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh T.
Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là Ngô Việt A sinh năm 2003 và Ngô Bảo N sinh năm 2016. Khi ly hôn chị L nhận nuôi con Ngô Bảo N, để cho anh T nuôi con Ngô Việt Anh; không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết.
Lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn Ngô Văn T trình bày: Thống nhất với lời trình bày của chị L về thời điểm kết hôn và con chung. Sau cưới vợ chồng chung sống tại xã Kim Đính, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đến năm 2004 thì chuyển về sinh sống tại thôn Do Nha, xã Tân Tiến, huyện An Dương cho đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, nhiều lần xảy ra tranh cãi nhau. Chị L xin ly hôn, anh T mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp chị L kiêt quyết ly hôn, anh đồng ý với điều kiện chị L phải để hai con cho anh nuôi; không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Ngô Văn T; giao con Ngô Việt A cho anh T nuôi, giao con Ngô Bảo N cho chị L nuôi; nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
Về thẩm quyền: Bị đơn cư trú tại huyện An Dương nên Tòa án nhân dân huyện An Dương thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị L và anh T được Ủy ban nhân dân xã Kim Đính, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương cấp Giấy đăng kí kết hôn số 32 ngày 26/11/2002 nên hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vậy xác định yêu cầu xin ly hôn của chị L đã thỏa mãn những căn cứ cho ly hôn quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình; cần giải quyết cho ly hôn giữa chị L và anh T.
Về con chung: Chị L, anh T có con chung như đã trình bày ở trên là đúng và đều có đủ điều kiện nuôi con. Chị L có nguyện vọng nuôi cháu N, anh T có nguyện vọng nuôi cả hai con. Do vậy việc giao con cho ai nuôi cần phải xét đến nguyện vọng, tuổi và giới tính của con. Cháu Việt A có nguyện vọng ở với bố được chị L đồng ý nên giao cho anh T nuôi; cháu Bảo N là nữ, còn nhỏ cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc trực tiếp từ mẹ nhiều hơn nên giao cho chị L nuôi. Việc giao con cho các bên nuôi như trên là phù hợp với quy định tại các điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L, anh T không yêu cầu nên không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị L, anh T không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Ngô Văn T.
Về nuôi con chung: Giao con Ngô Việt A sinh ngày 04/12/2003 cho anh Ngô Văn T trực tiếp nuôi; giao con Ngô Bảo N sinh ngày 23/9/2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi. Các bên được quyền nuôi con cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L, anh T không yêu cầu nên không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị L, anh T không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương biên lai số 0019660 ngày 29/7/2021. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục THADS h. An Dương; - UBND xã Kim Đính, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (Cơ quan cấp ĐKKH số 32 ngày 26/11/2002); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |