vanban.org

Bản án 83/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Mai H phạm tội “chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt bị cáo Lê Mai H 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/9/2020 . Về án phí: Bị cáo Lê Mai H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mai H phạm tội "chống người thi hành công vụ" - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Mai H phạm tội “chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2020/HSST
Ngày: 30-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Sơn

2. Bà Vũ Thị Hải Vân

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Dương Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2020 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Mai H, sinh ngày 17/10/1978, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: tiểu khu A, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn S và bà Mai Thị Kh; có vợ và 03 con; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: bị TAND thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, theo bản án số 50/2018/HSST ngày 14/11/2018, chấp hành xong bản án ngày 15/7/2019. Ngày 09/02/2020, bị Công an huyện TH, tỉnh Thanh Hóa khởi tố bị can để điều tra về hành vi “Đánh bạc”, đến nay vụ án chưa được xét xử; bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình kể từ ngày 28/9/2020 đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Công an tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: đường ĐTM, phường ĐT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện theo pháp luật: ông Phạm Văn S, chức vụ: Giám đốc Công an tỉnh Ninh Bình.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Vũ Đức T, sinh năm 1984, nơi cư trú: số nhà B, đường LVT, phố NT, phường TT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình (theo Giấy ủy quyền ngày 20/10/2020 của Giám đốc Công an tỉnh Ninh Bình) (vắng mặt).

+ Công ty TNHH dịch vụ và vận tải PC; địa chỉ: Khu phố C, phường BS, thị xã BS, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện theo pháp luật: ông Bùi S1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Khu phố C, phường BS, thị xã BS, tỉnh Thanh Hóa – chức vụ: Giám đốc Công ty.

Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn KS, xã HK, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa. (theo Giấy ủy quyền ngày 23/8/2020 của Giám đốc Công ty TNHH dịch vụ và vận tải PC) (vắng mặt).

+ Anh Đặng Ngọc H1, sinh năm 1981; nơi cư trú: số nhà D, phố TA, phường TT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

+ Anh Đào Xuân N, sinh năm 1985; nơi cư trú: số nhà 25, phố 11, phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Đinh Ngọc Ph (vắng mặt).

+ Anh Bùi Đức Th (vắng mặt).

+ Anh Phạm H2 (vắng mặt).

+ Anh Phạm Minh Ph1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 763 ngày 31/7/2020 của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình, ngày 19/8/2020, Trạm Cảnh sát giao thông TĐ thuộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình thành lập Tổ công tác có 06 người gồm các ông: Thiếu tá Bùi Xuân T1, thiếu tá Đặng Ngọc H1, Đại úy Đào Xuân N, Đại úy Lê Đức Tr, Thượng úy Đinh Anh Đ và Thượng úy Phan Văn Ph3. Tổ công tác do ông Bùi Xuân T1 làm tổ trưởng, thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ trên tuyến Quốc lộ 1A từ km 251 đến km 285, thời gian thực hiện nhiệm vụ từ 06 giờ 00 phút đến 12 giờ 00 phút ngày 19/8/2020. Quá trình thực hiện nhiệm vụ Tổ công tác mặc trang phục của lực lượng Cảnh sát giao thông, sử dụng còi, gậy điều khiển giao thông, xe ô tô chuyên dùng BKS: 35A – 6689 và xe mô tô BKS: 35A1- 00065.

Khoảng 06 giờ 05 phút, tại Km 275 + 200 Quốc lộ 1A, trong khi làm nhiệm vụ, tổ công tác của Trạm Cảnh sát giao thông TĐ phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 36C – 085.21 kéo theo Sơmi Rơmooc biển kiểm soát 36R – 006.86 do Lê Mai H điều khiển chở đất đi trên Quốc lộ 1A chiều đường Ninh Bình – Thanh Hóa, có dấu hiệu vi phạm tải trọng hàng hóa trên xe nên Thiếu tá Đặng Ngọc H1 sử dụng còi, gậy điều khiển giao thông ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra nhưng Lê Mai H không dừng xe mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng về phía Thanh Hóa. Ông Bùi Xuân T1 giao nhiệm vụ cho ông Đặng Ngọc H1 và ông Đào Xuân N sử dụng xe ô tô chuyên dụng biển kiểm soát 35A – 6689 đuổi theo để ngăn chặn hành vi vi phạm của Lê Mai H. Ông Đặng Ngọc H1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 35A – 6689 chở ông Đào Xuân N đuổi theo xe ô tô biển kiểm soát 36C – 085.21. Khi đến khu vực Km 279 + 200 Quốc lộ 1A thuộc Tổ D, phường BS, thành phố TĐ thì ông Đặng Ngọc H1 điều khiển xe ô tô chuyên dùng biển kiểm soát 35A - 6689 vượt lên được phía trước xe ôtô BKS: 36C – 08521. Ông Đào Xuân N ngồi trong xe ô tô sử dụng còi, gậy điều khiển giao thông ra hiệu lệnh cho Lê Mai H dừng xe. H cho xe dừng lại ở lề đường bên phải theo chiều đi, phía sau xe ôtô biển kiểm soát 35A – 6689. Ông Đặng Ngọc H1 và ông Đào Xuân N xuống xe yêu cầu H xuống xe làm việc. Khi H xuống xe, ông Đặng Ngọc H1 nói với H “Sao chúng tôi ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm soát phương tiện sao anh không dừng lại” thì H trả lời “Xe tôi chở nhẹ, không quá tải, có gì đâu mà kiểm tra”. Ông Đặng Ngọc H1 yêu cầu H xuất trình giấy tờ để kiểm tra và điều khiển xe ô tô biển 36C – 085.21 đến trụ sở Trạm cảnh sát giao thông TĐ để cân kiểm tra tải trọng của xe ô tô. H không nói gì mà lên cabin xe ô tô biển kiểm soát 36C – 085.21. lùi lại, đánh lái sang bên trái để đi về phía Thanh Hóa. Ông Đào Xuân N thổi còi báo hiệu cho H dừng lại nhưng H vẫn tiếp tục đi về phía Thanh Hóa. Ông Đặng Ngọc H1 tiếp tục điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 35A – 6689 chở ông Đào Xuân N đuổi theo xe ôtô biển kiểm soát 36C – 085.21 được khoảng 100m thì vượt lên phía trước xe ôtô biển kiểm soát 36C – 085.21. Ông Đào Xuân N ngồi trong xe ôtô sử dụng gậy chỉ huy giao thông ra hiệu hiệu cho Lê Mai H dừng xe nhưng H vẫn không chấp hành mà điều khiển xe đi lạng lách nhằm vượt lên trước xe ô tô của cảnh sát, trong lúc cố vượt lên thì H đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C – 085.21 đâm vào phía sau xe ôtô biển kiểm soát 35A – 6689 làm cho cánh cửa phía sau của xe bị bật bung ra. Khi đến Km 281+300 Quốc lộ 1A thuộc Tổ dân phố E, phường NS, thành phố TĐ thì tổ công tác dừng được xe ôtô biển kiểm soát 36C – 085.21 lại tại vị trí trên làn xe cơ giới giáp dải phân cách của chiều đường Ninh Bình – Thanh Hóa. Sau khi dừng xe, các ông Đào Xuân N và ông Đặng Ngọc H1 xuống xe, đi đến phía trước xe ô tô biển kiểm soát 36C – 085.21 yêu cầu H xuống xe làm việc, tuy nhiên H không chấp hành vẫn ngồi trên xe, nổ máy. Các ông Đào Xuân N và Đặng Ngọc H1 trèo lên dải phân cách ở giữa đường tiếp tục yêu cầu H xuống xe làm việc nhưng H vẫn không chấp hành. Khi ông Đặng Ngọc H1 đang đứng tại vị trí phía trước, giữa xe đầu kéo và cách đầu xe khoảng 02 mét thì H điều khiển xe lùi khoảng 03 đến 04 mét rồi đánh lái sang bên phải đi sang làn đường cho xe cơ giới bên cạnh. Ông Đặng Ngọc H1 sử dụng gậy chỉ huy giao thông chỉ về phía H và thổi còi ra hiệu lệnh dừng xe lại. Khi H điều khiển xe đi sang làn đường cho xe cơ giới bên cạnh thì từ từ tiến thẳng về vị trí ông Đặng Ngọc H1 đang đứng. Thấy xe ô tô do H điều khiển tiến thẳng về phía mình, ông Đặng Ngọc H1 thổi còi liên tục và chống hai tay vào mặt trước cabin bên lái xe ôtô đầu kéo. H không dừng xe lại mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng với tốc độ nhanh dần buộc ông Đặng Ngọc H1 phải đi lùi trên đường khoảng 50 đến 60 mét thì nhảy sang làn đường cho xe cơ giới tiếp giáp với dải phân cách để tránh nguy hiểm. Khi ông Đặng Ngọc H1 đã nhảy ra khỏi đầu xe thì H điều khiển xe tăng tốc bỏ chạy. Ông Đào Xuân N điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 35A – 6689 tiếp tục truy đuổi đến khu vực Km 281 + 900 QL1A thuộc Tổ F, phường NS, thành phố TĐ thì dừng được xe ôtô biển kiểm soát 36C – 085.21. Ông Đặng Ngọc H1 cũng đi đến cùng với ông Đào Xuân N yêu cầu H xuống xe làm việc nhưng H vẫn không chấp hành. Khoảng 10 phút sau H xuống xe làm việc với Tổ công tác và điều khiển xe ô tô đến Trụ sở Trạm Cảnh sát giao thông TĐ. Tổ công tác đã tiến hành cân kiểm tra tải trọng xe ôtô đầu kéo BKS: 36C – 085.21 kéo theo sơmi rơmooc BKS: 36R – 006.86 xác định xe vi phạm tải trọng trục của xe là 44,8%.

Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm “Chống người thi hành công vụ”, ngày 20/9/2020, Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành thu giữ dữ liệu hình ảnh trích xuẩt từ camera của gia đình chị Vũ Thị L vào 01 USB nhãn hiệu Kingston màu xanh DT101 G2 và niêm phong theo quy định.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành thu giữ dữ liệu hình ảnh video ghi lại hình ảnh diễn biến vụ án trong điện thoại di động của anh Đinh Ngọc Ph (sinh năm: 1974, trú tại Tổ dân phố G, phường YB, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình).

Ngày 27/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp ra Quyết định trưng cầu giám định số 100/CQĐT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình giám định dữ liệu điện tử và trích xuất hình ảnh từ đoạn video thu giữ tại nhà chị Vũ Thị L và điện thoại di động của anh Đinh Ngọc Ph.

Tại Bản Kết luận giám định số 101/KLGĐ-PC09-KTS&ĐT, ngày 16/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa các đoạn video thu giữ tại nhà chị Vũ Thị L và của anh Đinh Ngọc Ph và đã trích xuất được các hình ảnh liên quan đến nội dung vụ án. Sau khi giám định xong Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành niêm phong 02 USB có đặc điểm nêu trên và bàn giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp, lưu trong hồ sơ làm căn cứ giải quyết vụ án.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành khám nghiệm đối với phương tiện xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI biển kiểm soát 35A – 6689 của Công an tỉnh Ninh Bình, kết quả xác định: tại vị trí phía sau xe bên trái có vết sạt xước sơn diện kích thước (34 x 15)cm, chiều từ sau ra trước, điểm thấp nhất cách mặt đất 78cm, trên vết có bám dính dị vật màu xanh. Cạnh ngoài phía sau tai xe tiếp giáp với cánh cửa sau bên phải có vết bong tróc sơn trên diện kích thước (18 x 3.5)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 70 cm. Mặt ngoài ba đờ xốc sau có vết trượt xước, nứt vỡ bong tróc sơn diện kích thước (70 x 12) cm, vết có chiều từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, trên vết rải rác bám dính dị vật màu xanh, điểm thấm nhất cao cách mặt đất 50 cm, điểm gần nhất cách thành xe bên trái 16 cm. Tại vị trí khung bắt giữ lớp dự phòng có 03 vết: vết thứ nhất sạt xước bong tróc sơn diện kích thước (12 x 9) cm, chiều trên xuống dưới, trên vết có bám dính dị vật màu xanh; vết thứ hai: kích thước (17,5 x 8)cm, trên vết có bám dính dị vật màu xanh, chiều trên xuống dưới; vết thứ ba: sạt xước, bẹp méo, bong tróc sơn diện kích thước (25 x 12) cm, chiều trên xuống dưới, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 65 cm, điểm gần nhất cách thành xe bên trái 77,5 cm. Tai xe bên phải bị bật bung khớp nối phần bên trên so với vị trí ban đầu 1 cm. (BL 86, 87).

Tiến hành khám nghiệm xe ô tô nhãn hiệu CNHTC màu xanh biển kiểm soát 36C - 085.21 kéo theo Sơmi Rơmooc BKS: 36R – 006.86, xác định: mặt ngoài ba đờ xốc phía trước bên trái có 02 vết sạt sơn diện kích thước (7 x 0,1)cm, vết có chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, điểm gần nhất cách thành xe bên trái 38 cm, điểm thấm nhất cao cách mặt đất 71 cm; vết thứ hai: trượt xước sơn trên diện kích thước (0,5 x 0,8) cm, trên vết bám dính dị vật màu trắng. Mặt ngoài ba đờ xốc phía trước có tổ hợp các vết trượt xước trên diện kích thước (38 x 12)cm.

Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 22/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thành phố Tam Điệp xác định: xe ô tô biển kiểm soát 35A – 6689 bị hư hỏng gồm: Tai xe phía sau bên trái bị sạt xước sơn diện kích thước (34 x 15)cm. Cạnh ngoài phía sau tai xe phần tiếp giáp với cánh cửa có vết bong tróc sơn diện kích thước (18 x 3,5)cm thiệt hại trị giá 500.000 đồng; Mặt ngoài ba đờ sốc sau bị trượt xước, nứt vỡ bong tróc sơn diện kích thước (70 x 12)cm thiệt hại trị giá 800.000 đồng, Mặt ngoài khung bắt giữ lốp dự phòng 03 vết sạt xước bong tróc sơn lần lượt có kích thước là (12 x 9)cm; (17,5 x 8)cm; (25 x 12)cm thiệt hại trị giá 700.000 đồng. Tổng thiệt hại trị giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Trong quá trình điều tra, Lê Mai H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và ủy quyền cho chị Lê Thị Hà bồi thường thiệt hại cho Công an tỉnh Ninh Bình số tiền 2.000.000 đồng do hư hỏng xe ô tô.

Tại bản cáo trạng số: 89/CT-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Mai H về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Mai H và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Mai H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Mai H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam 28/9/2020.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Mai H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo cho rằng bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xem xét hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra, đại diện Công an tỉnh xác nhận đã được trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 35A – 6689, giấy tờ xe và đã được bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về xe, đến nay không yêu cầu giải quyết tiếp. Ông Đặng Ngọc H1 và ông Đào Xuân N xác nhận không bị ảnh hưởng sức khỏe nên không yêu cầu bồi thường

Trong quá trình điều tra, đại diện Công ty TNHH dịch vụ và vận tải PC xác nhận đã được trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo BKS: 36C – 085.21; Sơmi Rơmooc BKS: 36R – 006.86, đến nay không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo nhận tội và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 6 giờ ngày 19/8/2020, đi trên tuyến Quốc lộ 1 A thuộc địa bàn thành phố TĐ, Lê Mai H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 36C – 085.21 kéo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 36R – 006.86 chở quá tải trọng cho phép 44,8% đi trên tuyến Quốc lộ 1 A thuộc địa bàn thành phố TĐ không chấp hành hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra của Cảnh sát giao thông, cố tình bỏ chạy, sau đó có hành vi lạng lách, chèn ép, điều khiển xe va chạm với xe ô tô BKS: 35A - 6689 của cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, đồng thời điều khiển xe tiến từ từ về phía cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ phía trước đầu xe, buộc ông Đào Xuân N phải đi lùi trên đường khoảng 50-60m ra khỏi vị trí làm nhiệm vụ rồi tránh ra để bị cáo tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy.

Điều 330 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Chống người thi hành công vụ” như sau:

“ 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…”

Bị cáo Lê Mai H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, làm suy giảm hiệu lực quản lý của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn ở địa phương, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lê Mai H đã khai báo tương đối thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại cho Công an tỉnh Ninh Bình với số tiền 2.000.000 đồng. Có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân:

Bị cáo bị TAND thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, theo bản án số 50/2018/HSST ngày 14/11/2018, chấp hành xong hình phạt ngày 15/7/2019. Trong thời gian chưa được xóa án tích thì ngày 09/02/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TH, tỉnh Thanh Hóa khởi tố bị can đối với Lê Mai H về tội Đánh bạc nhưng đến nay bị cáo Lê Mai H chưa bị kết án về hành vi này nên chưa có căn cứ xác định bị cáo Lê Mai H có tái phạm hay không, do vậy Hội đồng xét xử chỉ xác định đây là tình tiết về nhân thân của bị cáo.

Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thấy bị cáo phạm tội không phải do bột phát tức thời, ngoài việc gây thiệt hại về tài sản trị giá 2.000.000 đồng ra, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, sử dụng phương tiện giao thông có trọng tải lớn, có nguy cơ cao dẫn đến nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ và người tham gia giao thông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính nghiêm minh của pháp luật, tạo hình ảnh rất xấu trong nhân dân, mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng có nhân thân xấu. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội nên cần chấp nhận.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Bị cáo đã ủy quyền cho chị Lê Thị H bồi thường xong thiệt hại của chiếc xe ô tô biển kiểm soát 35A – 6689 cho Công an tỉnh Ninh Bình. Đến nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu giải quyết tiếp nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét

Ông Đặng Ngọc H1 và ông Đào Xuân N không bị ảnh hưởng sức khỏe nên không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra trả lại xe ô tô BKS: 35A - 6689 cùng giấy tờ liên quan cho Công an tỉnh Ninh Bình là đúng pháp luật.

- Đối với chiếc xe ô tô đầu kéo BKS: 36C – 085.21; Sơmi Rơmooc BKS: 36R – 006.86 bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, thuộc quyền sở hữu Công ty TNHH dịch vụ và vận tải PC. Do chủ phương tiện không có lỗi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.

- Đối với Giấy phép lái xe hạng FC của Lê Mai H và Phù hiệu xe Côngtenơ BKS: 36C – 085.21, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp chuyển đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình để xử lý hành vi chở hàng hóa quá tải trọng là đúng pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Mai H phạm tội “chống người thi hành công vụ”.

2. Xử phạt bị cáo Lê Mai H 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/9/2020 .

3. Về án phí: Bị cáo Lê Mai H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ