- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: c n cứ vào điểm b, h khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51 (đối với Bùi Trung K); điểm b khoản 2 Điều 255 (đối với Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D), khoản 1 Điều 255, khoản 2 Điều 51 (đối với Bùi Đức T); điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật …
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2023/HS-ST Ngày: 25 - 9 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Tr n V n Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xuân Luyện và bà Lê Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: ông Đặng Tr n Kim Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên toà: ông Từ V n Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 n m 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 8 n m 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 n m 2023, đối với các bị cáo:
1. Bùi Trung K - sinh n m 1981; nơi cư tr : tiểu khu L M, thị trấn K K, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ v n hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân Đ và bà Tr n Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 22/01/2014, TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 n m tù về tội “Mua bán trái phép chất ma t y” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự n m 1999 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2022); tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: ngày 18/5/2009, TAND tỉnh Hà Nam xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Ngày 03/7/2009, Chủ tịch UBND thành phố Phủ Lý ra Quyết định đưa đối tượng nghiện ma t y vào cơ sở chữa bệnh, thời gian 24 tháng. Ngày 02/3/2012, Công an phường Tr n Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma t y. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày từ ngày 30/3/2023 đến ngày 08/4/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
2. Nguyễn Anh Đ - sinh n m 1983; nơi cư tr : tiểu khu K, thị trấn K K, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ v n hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh T và bà Dương Thị B; (đều đã chết) vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 08/4/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
3. Nguyễn Văn D - sinh n m 1976; nơi cư tr : tiểu khu L M, thị trấn K K, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ v n hoá: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V n T và bà Phạm Thị T (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Đặc điểm nhân thân: ngày 20/02/2017, UBND huyện Thanh Liêm ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 5.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, vận chuyển trái phép pháo nổ”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 08/4/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
4. Bùi Đức T - sinh n m 1995; nơi cư tr : thôn Đ B, xã T B, huyện N Q, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ v n hoá: 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi V n T (đã chết) và bà Đinh Thị N; vợ: Bùi Thị T, con: có 01 con sinh n m 2019; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/3/2023 đến ngày 06/4/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Bùi Trung H – sinh n m 1984:
Nơi cư tr : tiểu khu L M, thị trấn K K, huyện T L, tỉnh Hà Nam vắng mặt.
Người chứng kiến: ông Nguyễn Mạnh T – sinh n m 1956 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/3/2023, Bùi Trung K và Bùi Đức T đến chơi, uống rượu tại nhà Nguyễn Anh Đ. Đến khoảng 09 giờ 30 ph t cùng ngày K bảo Đ cho mượn xe mô tô để đi làm hồ sơ xin việc đồng thời K nói “xong tao thiết kế mấy con về chơi”, hiểu ý K hỏi mượn xe mô tô đi làm hồ sơ xin việc và mua ma t y về cùng sử dụng nên Đ đưa xe mô tô BKS: 90B6 - 019.44 cho K mượn. Sau đó theo K khai nhận đã một mình điều khiển xe mô tô đi đến Công ty Summy thuộc khu công nghiệp Châu Sơn, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý để nộp hồ sơ xin việc rồi quay về, khi đi đến khu vực ngã tư c u Châu Sơn thành phố Phủ Lý thì K gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở ven đường, do trước đó có bạn nghiện giới thiệu nên K hỏi, mua của người này 300.000 đồng được 04 viên ma t y ngựa gói trong mảnh nilon màu trắng, K cất vào t i áo khoác rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà Đ. Trên đường đi, K gọi điện thoại di động cho Nguyễn V n D và bảo “anh c m cho em cái b t”, khi D hỏi lại “b t gì” thì K nói “mang cái b t bi sang nhà thằng Đ, có làm mấy khói thì làm”, hiểu ý K bảo mang vỏ b t sang nhà Đ để làm dụng cụ sử dụng ma t y nên D đồng ý. Sau đó K điều khiển xe mô tô đi về nhà Đ bảo Đ và T đợi D sang cùng sử dụng ma t y còn D sang nhà anh Bùi Trung H mượn, rồi điều khiển xe mô tô BKS: 90F3 – 10.. đi đến nhà Đ, trên đường đi D nhặt 01 chiếc vỏ b t bi màu xanh trắng ở ven đường rồi c m mang theo. Khoảng 12 giờ 20 ph t cùng ngày D đến nhà Đ đưa cho K chiếc vỏ b t nhặt được trước đó rồi cùng K, T vào ngồi trên giường trong phòng ngủ nhà Đ còn Đ đi xuống dưới bếp rang cơm, K bỏ gói ma t y ra và lấy mảnh giấy bạc ở cuối giường sau đó đi ra phòng khách lấy 01 chai nhựa màu trắng không có nắp rồi mang vào phòng ngủ, dùng bật lửa gas có sẵn trong phòng hơ, uốn cong một đ u chiếc vỏ b t D đưa, đục 01 lỗ trên thân chai rồi cắm vỏ b t vào làm dụng cụ sử dụng ma t y, đồng thời gọi, bảo Đ mang nước lên đổ vào chai nhựa. K lấy từng viên ma t y ngựa bỏ vào mảnh giấy bạc, sử dụng bật lửa hơ bên dưới (châm ma t y) cho D, T, Đ sử dụng, sau đó T c m bật lửa hơ cho K sử dụng, rồi K lại tiếp tục hơ cho Đ sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 30 ph t ngày 30/3/2023 tổ công tác Công an huyện Thanh Liêm phối hợp với Công an thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm làm nhiệm vụ đã kiểm tra phát hiện tại phòng ngủ nhà Nguyễn Anh Đ có Đ cùng 03 đối tượng và các đồ vật liên quan đến việc sử dụng ma t y. Qua đấu tranh ban đ u, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Trung K, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D, sau đó đến ngày 31/3/2023 c n cứ các tài liệu điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Đức T.
* Vật chứng thu giữ: thu trên giường trong buồng ngủ của Nguyễn Anh Đ: 01 mảnh t i nilon màu trắng bám dính bột màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước (2x7)cm bề mặt bám dính chất màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; 01 chai nhựa màu trắng không có nắp bên trong có chất lỏng màu trắng, trên thân chai nhựa đục 01 lỗ gắn 01 đoạn ống nhựa (vỏ b t bi uốn cong); 01 bật lửa gas màu đỏ.
- Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn V n D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03; của Bùi Trung K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung niêm phong trong phong bì ký hiệu QT04.
Lực lượng Công an đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Bùi Trung K, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D, Bùi Đức T, niêm phong trong các chai nhựa ký hiệu l n lượt M1, M2, M3, M4.
Ngày 30/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Liêm thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Anh Đ đã thu 03 xe mô tô BKS 90B6 - 019.44; BKS 90F3 - 1084; BKS 35N1 - 520.43.
Ngày 31/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Liêm ra Quyết định trưng c u Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định đối với các mẫu vật thu giữ niêm phong ký hiệu QT01, QT02; trưng c u giám định để xác định chất ma t y trong mẫu nước tiểu thu giữ niêm phong, ký hiệu từ M1 đến M4.
Tại các bản kết luận giám định số 181, 182/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “01 mảnh túi nilon màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định có bám dính ma túy loại Methamphetamine; 01 mảnh giấy bạc màu trắng trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định có bám dính ma túy loại Methamphetamine”;
“Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu M1, M2, M3, M4 gửi giám định”.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-MT ngày 10/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Bùi Trung K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” theo quy định tại các điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Bùi Đức T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” theo quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Bùi Trung K, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D, Bùi Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”. Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51 (đối với Bùi Trung K); điểm b khoản 2 Điều 255 (đối với Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D), khoản 1 Điều 255, khoản 2 Điều 51 (đối với Bùi Đức T); điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 , Điều 38, điểm a, c khoản 1, khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự (đối với tất cả các bị cáo); điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: - xử phạt:
Bùi Trung K từ 09 n m 06 tháng đến 10 n m tù; Nguyễn Anh Đ Nguyễn V n D mỗi bị cáo từ 08 n m đến 08 n m 06 tháng tù; Bùi Đức T từ 03 n m đến 03 n m 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo
Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 chai nhựa không có nắp, 01 vỏ b t bi, 01 bật lửa gas. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đen trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung là những tài sản D, K liên lạc rủ nhau sử dụng trái phép chất ma túy; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô BKS: 90B6 - 019.44 của Nguyễn Anh Đ là phương tiện cho K mượn để đi mua ma t y. Trả lại cho: Bùi Đức T 01 xe mô tô BKS: 35N1 - 520.43
- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và có ý kiến xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đ ng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 9 giờ 30 ph t ngày 30 tháng 3 n m 2023 Bùi Trung K mượn xe mô tô BKS 90B6-019.44 của Nguyễn Anh Đ để đi xin việc và mua ma túy về để sử dụng (Đ biết K mượn xe của mình để đi mua ma t y). Sau khi mua được 04 viên ma túy loại Methamphetamine, K điện thoại cho Nguyễn V n D chuẩn bị dụng cụ (b t bi) mang sang nhà Đ để sử dụng ma t y. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày tại nhà Nguyễn Anh Đ có địa chỉ tiểu khu K, thị trấn K K, huyện T L; K bỏ ma t y loại Methamphetamine ra và lấy mảnh giấy bạc ở cuối giường sau đó ra phòng khách lấy một chai nhựa mang vào phòng ngủ dùng bật lửa gas hơ uốn cong một đ u vỏ chiếc b t bi D đưa đục một lỗ trên thân chai rồi cắm vỏ b t bi vào làm dụng cụ sử dụng ma t y, đồng thời gọi bảo Đ mang nước đổ vào chai nhựa. K lấy ma t y bỏ vào mảnh giấy bạc sử dụng bật lửa hơ bên dưới châm ma túy cho D, T, Đ sử dụng. Sau đó T c m bật lửa hơ cho K sử dụng, K lại tiếp tục hơ cho Đ sử dụng đến khoảng 13 giờ 30 ph t cùng ngày thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Trung K, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Bùi Đức T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, ngoài ra Bùi Trung K đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án mà lại thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do lỗi cố ý nên Bùi Trung K phải chịu thêm tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm truy tố đối với các bị cáo là đ ng người, đ ng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị địa phương, đến sức kho và sự phát triển lành mạnh của con người. Do đó Hội đồng xét xử thấy c n thiết ra bản án nghiểm khắc tương xứng hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đây là vụ án có nhiều đối tượng tham gia nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, có tính chất tự phát; nên xác định là đồng phạm giản đơn. Về vai trò trong vụ án Bùi Trung K là người khởi xướng, trực tiếp đi mua ma t y, chuẩn bị dụng cụ và châm ma t y cho D, T, Đ sử dụng nên giữ vai trò thứ nhất; Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D là người cung cấp địa điểm, dụng cụ để sử dụng nên đồng phạm giữ vai trò thứ hai. Bùi Đức T chỉ châm ma t y cho Bùi Trung K sử dụng nên đồng phạm giữ vai trò thứ hai
Về nhân thân các bị cáo và các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo Bùi Trung K có nhân thân rất xấu, Nguyễn V n D có nhân thân xấu. Các bị cáo Nguyễn Anh Đ, Bùi Đức T đều có nhân thân tốt.
- Về tình tiết t ng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, n n n hối cải”, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo K có bố để (ông Đ) là thương binh được tặng huân chương chiến sỹ giải phóng, bị cáo T là người dân tộc thiểu số nên xét cho các bị cáo (K, T) được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy c n cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam; nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số mẫu vật hoàn trả sau giám định, 01 chai nhựa không có nắp, 01 vỏ b t bi, 01 bật lửa gas là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đều không có giá trị sử dụng nên c n tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đen trắng thu giữ của D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của K, cả hai sử dụng để liên lạc rủ nhau sử dụng trái phép chất ma túy; 01 xe mô tô BKS: 90B6 - 019.44 là phương tiện đi mua ma t y, xác định các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên c n tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối 01 xe mô tô BKS: 35N1 - 520.43 thu của Bùi Đức T là tài sản hợp pháp của T không liên quan đến hành vi phạm tội c n trả lại cho Bùi Đức T.
- Đối Đối với 01 xe mô tô đeo BKS: 90F3 – 10.. thu giữ của Nguyễn V n D, kết quả tra cứu, giám định xác định có số máy nguyên thủy: C100ME-0314053, số khung nguyên thủy: C100M-0314053 và không có trong hệ thống tang vật và hệ thống dữ liệu thông tin đ ng ký, tuy nhiên Biển kiểm soát: 90F3-1084 là Biển kiểm soát được đ ng ký cho xe mô tô nhãn hiệu WARE có số khung: 300974, số máy *01236819* hiện nay đang do chị Ngô Thị Ánh D - sinh n m 1976, tr tại thôn 2, xã B Đ, huyện B L quản lý sử dụng. Anh Bùi Trung H xác định n m 2020 bố vợ anh chết đã để lại cho anh chiếc xe này, không có giấy tờ gì, anh sử dụng từ đó đến nay. Do chưa xác định được nguồn gốc xe nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau khi có c n cứ là đ ng pháp luật.
Về các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma t y: tài liệu điều tra không đủ c n cứ để làm rõ về nguồn gốc số ma t y và đối tượng đã bán ma t y cho Bùi Trung K để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: c n cứ vào điểm b, h khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51 (đối với Bùi Trung K); điểm b khoản 2 Điều 255 (đối với Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D), khoản 1 Điều 255, khoản 2 Điều 51 (đối với Bùi Đức T); điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự (đối với tất cả các bị cáo); các điều 106,136, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên bố: các bị cáo Bùi Trung K, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D, Bùi Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y.
- Xử phạt bị cáo Bùi Trung K. 09 (chín) n m 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (30/3/2023).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Đ 08 (tám) n m 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (30/3/2023).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn V n D 08 (tám) n m 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (30/3/2023).
- Xử phạt bị cáo Bùi Đức T 36 (ba mươi sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (31/3/2023).
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
2. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả trong 02 phong bì niêm phong số 181/KTHS mặt trước phong bì l n lượt có ghi chữ “mẫu vật hoàn trả QT01; QT02; 01 vỏ b t bi, 01 bật lửa gas; 01 chai nhựa m u trắng
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đen trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade m u nâu đen BKS: 90B6 - 019.44.
- Trả lại cho: Bùi Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision m u xanh rêu BKS: 35N1 - 520.43.
(Chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm).
3. Án phí: các bị cáo Bùi Trung K, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn V n D, Bùi Đức T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai tr m nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Quyền yêu c u thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu c u thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THA DS huyện Thanh Liêm; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |