- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Tấn L phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Tấn L, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2020/HS-PT Ngày: 10 - 3 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Cẩm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Ông Bùi Xuân Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2020/HS-PT ngày 14 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Phan Tấn L. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2019/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam.
- Bị cáo bị kháng cáo: Phan Tấn L, sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ 12, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan Văn M, sinh năm 1968 và bà Võ Thị Hoa, sinh năm 1970; có vợ là Trần Thị T, sinh năm 1995; có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại không có kháng cáo: Anh Phan Tấn T, sinh năm 1995. Trú tại: Tổ 12 thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/6/2019, bị cáo Phan Tấn L đi chơi về đến khu vực cầu Bến Lội, thuộc: Tổ 12, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam thì thấy anh Phan Tấn T, anh Bùi Văn T, anh Bùi Văn T đang ngồi nhậu nên ghé vào ngồi chơi. Trong khi L ngồi chơi, anh Tài liên tục mời rượu L nhưng L không uống nên giữa L và anh T xảy ra mâu thuẫn. Phan Tấn L bực tức nói “Răng ông gài tôi uống rượu miết rứa” và lấy cái gậy điện tự chế ở trong túi quần của L ra dí vào người anh T, anh T liền nhảy xuống ruộng để tránh. Cùng lúc này có anh Phan Tấn Tr là anh trai của anh Phan Tấn T đi chơi về nhìn thấy anh T và L có lời qua tiếng lại nên vào can ngăn thì bị L dùng gậy điện tự chế dí vào người anh Tr nhưng anh Tr dùng mũ Bảo hiểm đang cầm trên tay đưa ra đở nên không trúng. Lúc này, anh T ở dưới ruộng lên bờ và đi lại phía L. Nhìn thấy anh T đi về phía L, Lài sợ anh T đánh nên L tiếp tục dùng gậy điện tự chế dí vào người anh T nhưng anh T nhảy xuống ruộng né được. Sau đó, anh T từ dưới ruộng lên bờ dùng tay phải đấm một cái vào mặt L thì L chạy về nhà của L lấy 02 (Hai) con dao (một con dao dài 76cm, phần cán bằng tre dài 47,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 28,5cm; một con dao dài 78,5cm, phần cán bằng tre dài 54cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 24,5cm) chạy ra lại khu vực cầu Bến Lội tìm anh T để đánh. Khi nhìn thấy L cầm theo 02 (Hai) con dao đi đến nên anh Tbỏ chạy. Lài cầm dao rượt đuổi theo anh T được khoảng 20 mét thì anh T bị vấp ngã, mặt úp xuống đất nên L chạy đến dùng dao đang cầm ở tay trái chém vào vai trái anh T 02 (Hai) cái, tiếp đến L dồn hai con dao vào tay phải và chém liên tiếp khoảng 03 (Ba) đến 04 (Bốn) cái vào vùng lưng của anh T, vừa chém L vừa la “Mi hả T, mi hả T”. Anh Tr, anh T1, anh Th nghe tiếng L la lớn thì chạy lại can ngăn nên L bỏ chạy về nhà. Anh T bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam đến ngày 26/6/2019 thì xuất viện.
Tại Bản giám định thương tích số 193/GĐTT.18 ngày 11/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận: Tỉ lệ thương tích của anh Phan Tấn T là 13% (Mười ba phần trăm).
Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2019/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Phan Tấn L 15 (Mười lăm) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 03/12/2019, bị cáo Phan Tấn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo Phan Tấn L 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm, bị hại tiếp tục có đơn xin giảm hình phạt và nhận thêm số tiền bồi dưỡng 5.000.000 đồng, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng xét mức án mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp và không nặng; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng để bị cáo có điều kiện chăm sóc vợ bị bệnh Tim và hai con còn quá nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phan Tấn L có đơn kháng cáo về phần hình phạt. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Tấn L khai nhận: Vào tối ngày 16/6/2019, giữa bị cáo và bị hại Phan Tấn T xảy ra mâu thuẫn do anh T liên tục ép mời uống rượu, bức xúc bị cáo dùng roi điện tự chế dí vào người anh T nhưng không trúng, bị anh T dùng tay đánh vào mặt, bị cáo chạy về nhà lấy 02 con dao quay lại tìm anh T để đánh. Khi thấy bị cáo cầm dao chạy ra, anh T bỏ chạy được khoảng 20 mét thì vấp ngã trong tư thế nằm úp; bị cáo L chạy đến, hai tay cầm hai con dao chém vào vai trái và lưng anh T, gây thương tích cho anh T với tỷ lệ là 13%.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ được cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi dùng dao chém vào cơ thể bị hại, gây thương tích cho anh Phan Tấn T với tỷ lệ 13 % và thuộc tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí nguy hiểm” nên bản án hình sự sơ thẩm số 60/2019/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam kết án bị cáo Phan Tấn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và tại phiên toà xin được hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo Phan Tấn L 15 tháng tù là có cơ sở. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi dưỡng thêm cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng và được người bị hại có đơn xin cho bị cáo hưởng án treo; bị cáo là lao động chính (trực tiếp nuôi dưỡng hai con sinh năm 2017, 2019 và vợ bị bệnh Tim); đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và nguyên nhân của hành vi phạm tội có một phần lỗi của bị hại trước đó. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp, thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Phan Tấn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Tấn L, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Phan Tấn L 15 (Mười lăm) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 10/3/2020).
Giao bị cáo Phan Tấn L cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Bị cáo Phan Tấn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10/3/2020).
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành TT; - Người tham gia TT; - Phòng PV06 CA Q.Nam; - P.HSNV Sở tư pháp Q. Nam; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thế Cẩm |