- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Ửng A C - Đoàn Thanh N, Trần Việt L"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Việt L.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83 /2020/DS-PT Ngày 08 – 5 – 2020 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Út
Ông Phạm Việt Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Màu – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 85/2020/TLPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2020 về việc: Tranh chấp hụi.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2019/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 79/2020/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ửng A C, sinh năm 1966 (Có mặt).
Địa chỉ: Khóm 2, thị t, huyện P, tỉnh C ..
- Bị đơn: Bà Đoàn Thanh N1, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
Ông Trần Việt L, sinh năm 1962 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm 2, thị t, huyện P, tỉnh C ..
Đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông L: Ông Ngô Trường S, sinh năm 1963 và bà Phan Thị U, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: khóm 4, phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh C (Ông S có mặt, bà U vắng mặt).
- Người kháng cáo: ông Trần Việt L, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ông Ửng A C trình bày:
Ngày 19/01/2011, bà N1 và ông L có mở dây hụi 5.000.000 đồng, gồm 55 phần, một tháng khui 01 lần, ông C tham gia 01 phần. Ông C đóng hụi được 27 lần, đến tháng 4/2013 bà N1 và ông L đình hụi. Số tiền hụi ông C được hưởng là 27 lần x 5.000.000 đồng = 135.000.000 đồng. Từ khi đình hụi đến ngày 19/01/2014 bà N1 và ông L đã trả cho ông C được 45.450.000 đồng, còn nợ lại 89.550.000 đồng. Đo đó ông C yêu cầu bà N1 và ông L trả cho ông số tiền hụi còn nợ là 89.550.000 đồng.
Cùng dây hụi này, ông C còn hùn với ông Trần Văn N2, ở khóm 5, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia 01 phần; ông C và ông N2 đóng hụi được 27 lần. Số tiền hụi ông C và ông N2 được hưởng là 27 lần x 5.000.000 đồng = 135.000.000 đồng, trong đó ông C và ông N2 mỗi người hưởng ½ bằng 67.500.000 đồng. Từ khi đình hụi cho đến nay thì phía bà N1 và ông L chưa thanh toán cho ông C và ông N2 khoản tiền nào. Do ông N2 không khởi kiện, nên ông C khởi kiện yêu cầu bà N1 và ông L trả cho ông ½ số tiền của phần hụi mà ông được hưởng là 67.500.000 đồng.
Tổng cộng ông C yêu cầu bà N1 và ông L phải trả cho ông số tiền là 157.050.000 đồng.
- Theo bà Đoàn Thanh N1 trình bày:
Bà N1 thừa nhận trình bày của ông C là đúng, nhưng xác định thời gian đình hụi vào tháng 3/2013. Vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên yêu cầu được trả tiền vốn góp vào dây hụi và đồng ý tính lãi tương ứng từng kỳ. Bà N1 xác định số tiền vốn góp 27 kỳ của mỗi phần hụi là 51.550.000 đồng; bà N1 yêu cầu được đối trừ số tiền 45.450.000 đồng đã trả cho ông C.
- Theo ông Trần Việt L trình bày:
Ông L thống nhất với trình bày vay yêu cầu của bà N1.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2019/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Ửng A C. Buộc bà Đoàn Thanh N1 và ông Trần Việt L phải trả cho ông Ửng A C số tiền nợ là 74.140.584 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông C về việc buộc bà N1 và ông L trả số tiền 82.909.416 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11/12/2019, ông Trần Việt L có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại thời gian tính lãi và mức lãi suất theo Ngân hàng Nhà nước công bố là 7%.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người đại diện theo ủy quyền ông L ông Ngô Trường Sơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông Sơn phát biểu: Về thời gian tính lãi, cấp sơ thẩm xác định không chính xác vì thời gian mở hụi là ngày 19/01/2011 âm lịch (nhằm ngày 21/02/2011dương lịch), theo thỏa thuận sau khi khui hụi 10 ngày sau hụi viên mới đóng hụi; do đó, thời gian tính lãi được tính từ ngày 02/3/2011 dương lịch. Như vậy, cấp sơ thẩm xác định thời gian tính lãi chênh lệch 01 tháng 08 ngày. Cấp sơ thẩm tính mức lãi suất 1%/tháng là cao hơn mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố 7%/năm. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nhưng cấp sơ thẩm tính lãi là vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, kiến nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông L, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
Ông C phát biểu: Theo yêu cầu khởi kiện của ông có yêu cầu tính lãi, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã điều chỉnh mức lãi suất theo quy định pháp luật, yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Việt L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Việc giao dịch hụi giữa ông C với bà N1 và ông L là có thực tế, được các bên thừa nhận và trình bày thống nhất về giao dịch hụi. Tuy nhiên, các bên trình bày không thống nhất về số tiền vốn ông C góp vào và số tiền hụi mà ông C được hưởng. Ông C yêu cầu bà N1 và ông L trả cho ông số tiền của phần hụi ông tham gia 27 kỳ góp x 5.000.000 đồng = 135.000.000 đồng – 45.450.000 đồng = 89.550.000 đồng và phần hụi ông hùn với ông N2 27 kỳ x 5.000.000 đồng = 135.000.000 đồng : 2 = 67.500.000 đồng; tổng cộng bằng 157.050.000 đồng. Bà N1 và ông L xác định số tiền vốn góp 27 kỳ của mỗi phần hụi là 51.550.000 đồng và đồng ý tính lãi tương ứng từng kỳ, yêu cầu đối trừ số tiền 45.450.000 đồng đã trả cho ông C.
Quá trình giải quyết vụ án, ông C xác định không có theo dõi số tiền vốn đã góp của 27 kỳ khui hụi, mà do chủ hụi theo dõi, ông C không chứng minh được số tiền vốn mà ông đã góp; phía bà N1 và ông L cung cấp được giấy tờ theo dõi số tiền vốn hụi viên đã góp của 27 kỳ khui hụi bằng 51.550.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm xác định số tiền vốn ông C đã góp ở phần hụi tự tham gia bằng 51.550.000 đồng và ở phần hụi hùn với ông N2 bằng 25.775.000 đồng là có căn cứ.
Về số tiền hụi ông C được hưởng, cấp sơ thẩm xác định số tiền vốn góp của từng kỳ và tính lãi suất theo mức lãi suất 1%/tháng tương ứng với từng kỳ, đối trừ số tiền bà N1 và ông L đã trả, buộc bà N1 và ông L trả cho ông C số tiền bằng 74.140.584 đồng; ông C và bà N1 không có đơn kháng cáo. Riêng ông L có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại thời gian tính lãi và điều chỉnh mức lãi suất theo Ngân hàng Nhà nước công bố 7%.
Xét kháng cáo của ông Trần Việt L, Hội đồng xét xử xét thấy:
Loại hụi mà ông C tham gia do bà N1 và ông L làm chủ hụi là hình thức hụi có lãi, nhưng mức lãi suất thỏa thuận vượt quá mức lãi suất theo quy định pháp luật. Tại Điều 10 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 quy định: “Trong trường hợp họ có lãi thì lãi suất đối với phần họ được thực hiện theo quy định tại Điều 476 của Bộ Luật Dân sự”, do đó cần phải điều chỉnh lại mức lãi suất cho phù hợp với quy định pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 476 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: “ ... mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố ...”. Do mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước công bố 9%/năm, nên mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá 13,5%/năm và không quá 1,125%/tháng. Như vậy, cấp sơ thẩm tính mức lãi suất 1%/tháng đối với số tiền vốn ông C đã góp là có lợi cho bà N1 và ông L và không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của ông C.
Ông C, bà N1 và ông L đều xác định dây hụi mở ngày 19/01/2011 âm lịch, tức nhằm ngày 21/02/2011 dương lịch; đồng thời theo danh sách hụi thể hiện thời gian gôm hụi sau 05 ngày kể từ khui hụi. Do đó, thời gian tính lãi được xác định tính từ ngày 27/02/2011 dương lịch, nhưng cấp sơ thẩm tính từ ngày 19/01/2011 là chênh lệch 01 tháng 08 ngày. Tuy nhiên, việc giao dịch hụi của các đương sự được thỏa thuận thực hiện theo ngày, tháng âm lịch; do đó, nếu việc tính lãi thực hiện theo ngày, tháng âm lịch thì từ năm 2011 đến năm 2019 có 03 năm nhuận (2012, 2014 và 2017) thời gian sẽ tăng thêm 03 tháng so với cách tính theo ngày, tháng dương lịch. Như vậy, cách tính lãi của cấp sơ thẩm đã có lợi cho bà N1 và ông L thời gian là 01 tháng 22 ngày.
Từ phân tích trên, xét thấy án sơ thẩm buộc bà N1 và ông L trả cho tổng số tiền bằng 74.140.584 đồng là có căn cứ. Đối với đề nghị của đại diện của ông L tại phiên tòa sửa án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.
Án phí dân sự phúc thẩm ông L phải chịu theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Việt L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 61/2019/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Ửng A C.
Buộc bà Đoàn Thanh N1 và ông Trần Việt L trả cho ông Ửng A C số tiền 74.140.584 đồng.
Kể từ ngày ông C có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà N1 và ông L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Ửng A C về việc buộc bà Đoàn Thanh N1 và ông Trần Việt L phải trả cho ông C số tiền 82.909.416 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đoàn Thanh N1 và ông Trần Việt L phải chịu số tiền 3.707.029 đồng.
Ông Ửng A C phải chịu số tiền 4.145.470 đồng. Ngày 27/3/2019 ông C đã dự nộp 3.926.000 đồng theo biên lai thu số 0019074 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, đối trừ ông C còn phải nộp tiếp 219.470 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông L phải chịu 300.000 đồng. Ngày 11/12/2019, ông L đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019664 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân ; - Chi cục THADS huyện Phú Tân ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lập |