vanban.org

Bản án 83/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 11/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các biện pháp tư pháp:

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại Hải đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu khác. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Ngọc T can tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Các biện pháp tư pháp:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2019/HS-ST.
Ngày: 11-11-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Minh – Cán bộ Ban tuyên giáo huyện Trảng Bàng;

Bà Dương Thị Mỹ Liên – Cán bộ hưu trí Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Trảng Bàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Giúp - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1998, tại tỉnh Kiên Giang.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố A, phường ĐH, thành phố HT, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Huỳnh Mỹ H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 26-8-2019, chuyển tạm giam từ ngày 04-9-2019 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Đỗ Viết H, sinh ngày 29-7-2002, vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Đặng Tấn Tr (là cha của bị hại), sinh năm 1974; có mặt.

Bà Nguyễn Kim C (là mẹ của bị hại), sinh năm 1973; vắng mặt.

Cùng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp BM, xã AT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; cư trú tại: Khu phố LT, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 18-8-2019, Huỳnh Ngọc T điều khiển xe môtô loại Wave màu đen (không rõ biển số) chở theo Sơn Thị Diệu A đến hồ bơi Linh Trung III thuộc ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để tắm. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T đu lên khu vực để đồ cá nhân của những người bơi thì nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70, màu đen của Nguyễn Đỗ Viết H để trong túi xách không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm bán lấy tiền tiêu xài. T lén lút lấy trộm điện thoại của H bỏ vào túi quần và kêu Ân ra xe đi về phòng trọ tại ấp Trảng Lắm, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại, H cùng gia đình dùng ứng dụng định vị truy tìm và đến Công an trình báo. Đến ngày 26-8-2019, T bị Công an bắt giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KLĐG ngày 27-8-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trảng Bàng, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70, màu đen, số IMEI 1: 355915102683497, số IMEI 2: 355915102683495 có giá trị 8.735.250 đồng.

Tại Cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 25-10-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T từ 03 đến 06 tháng tù.

Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu khác.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện bị hại khai nhận: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian bị cáo bị tạm giam, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xử nhẹ để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 14 giờ ngày 18-8-2019, tại hồ bơi Linh Trung III thuộc ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Huỳnh Ngọc T đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70, màu đen của Nguyễn Đỗ Viết H có giá trị 8.735.250 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo, phấn đấu trở thành người tốt, sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áo dụng theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại H đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu khác.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian chấp hành án tính từ ngày 26-8-2019.

2. Các biện pháp tư pháp:

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị hại Hải đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu khác.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Báo cho bị cáo, đại diện bị hại biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án. Riêng đại diện bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ