vanban.org

Bản án 83/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Tuyên án 23/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/6/2019 đến ngày 19/6/2019. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 83/2019/HSST
Ngày: 23 - 9 -2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Thu An

2. Ông Phạm Xuân Đính

-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Thân Văn Chẻo – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2019/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2019/HSST-QĐ ngày 28/8/2019 đối với bị cáo:

NGUYỄN MINH H, sinh năm 1999 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Ti; Nơi cư trú: tổ 1, ấp 3A, xã M , huyện Ch , tỉnh Bình Phước ; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông (không rõ) và con bà Nguyễn Thị Kim O ; vợ Nguyễn Thị Thúy N và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: 01 (Ngày 16/9/2019 bị UBND xã M , Chơn Thành, Bình Phước áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 16/9/2019 bị UBND xã M , Ch , Bình Phước áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/6/2019 đến ngày 19/6/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Võ Minh H, sinh năm 1977; Địa chỉ: tổ 7, khu phố Trung Lợi, thị trấn C , huyện Ch , tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 09/06/2019, H điều khiển xe đạp đi từ nhà ra đường Nguyễn Văn L thuộc KP Trung Lợi, thị trấn C, huyện Ch rồi đi về hướng Trung tâm hành chính huyện Chơn Thành để tìm nấm mối. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, H đi đến trước nhà anh Võ Minh H1, sinh năm 1977, HKTT: Tổ 7, KP Trung Lợi, thị trấn C, huyện Ch, tỉnh Bình Phước nhìn thấy cổng nhà anh H1 không khóa, phía trong hiên nhà anh H1 có để 04 máy cưa nên H nảy sinh ý định vào nhà anh H1 trộm máy cưa bán lấy tiền tiêu xài. H đẩy cửa đi vào lấy trộm một máy cưa nhãn hiệu STIHL MS 381, để lên giữa tay lái xe đạp, một tay giữ máy cưa, một tay điều khiển xe đi về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 30 ngày 10/06/2019, H điều khiển xe đạp đến cổng Công ty Dongwha thuộc KCN Minh Hưng III tìm anh Phạm Minh Tiến, sinh năm 1981, HKTT tổ 12, ấp 4, xã M, huyện Ch (là người trước đây đã từng mua máy cưa của H) để hỏi Tiến có mua máy cưa không. Anh Tiến không có ở đây nên H đã mượn điện thoại của Phạm Văn Đ, sinh năm 1989, nơi cư trú ấp 3B, xã M, huyện Ch (người làm thuê cho Tiến) điện thoại cho anh Tiến và nói “em có cái máy cưa, bữa em mua để sử dụng, giờ kẹt tiền bán lại anh có mua không”. Tiến nói “em mang lại nhà anh xem rồi anh mua”, H nói em không có xe, Tiến nói Đ dùng xe mô tô Wave biển số 29L - 4743 của Đ chở H mang máy cưa xuống nhà của Tiến để Tiến mua. Khi Đ chở H vừa đến nhà Tiến thì H bị lực lượng Công an huyện Chơn Thành phát hiện bắt giữ (BL 44-49 Biên bản ghi lời khai bị can Nguyễn Minh H; BL 61-62 Biên bản ghi lời khai bị hại Võ Minh H1).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 33/KLĐG-HĐĐGTS, ngày 14/06/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Chơn Thành xác định máy cưa, nhãn hiệu: STIHL MS 381, màu sơn cam – trắng tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng); một lam cưa nhãn hiệu STIHL, loại 50 cm tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Minh H chiếm đoạt của anh H1 là 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm ngàn đồng) (BL 83).

Vật chứng vụ án:

01 máy cưa nhãn hiệu STIHL, loại MS 381, màu cam trắng và 01 lam cưa nhãn hiệu STIHL, loại 50cm là tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh Võ Minh H1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1.

01 xe đạp hiệu FUHACHI màu bạc. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Khoái. Bà Khoái không biết H sử dụng để đi trộm cắp tài sản nên đã trả lại cho bà Khoái.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường

Bản cáo trạng số 84/Ctr-VKS ngày 14/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có con còn nhỏ, là lao động chính của gia đình. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án 07 tháng đến 09 tháng tù.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cũng như phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 09/6/2019 tại tại khu phố Trung Lợi, thị trấn C, huyện Ch, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Minh H đã lén lút lấy trộm của anh Võ Minh H1 01 máy cưa nhãn hiệu STIHL, loại MS 381, màu cam trắng và 01 lam cưa nhãn hiệu STIHL, loại 50cm. Kết luận định giá xác định tài sản trên có giá trị 5.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sữa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác đồng thời gây mất an ninh trật tự địa phương, vi phạm nghiêm trọng về đạo đức, lối sống. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó,Cáo trạng số 84/Ctr-VKS ngày 14/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có 02 con còn nhỏ, là lao động chính của gia đình. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là phù hợp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, tuy nhiên mức đề nghị hình phạt cao so với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/6/2019 đến ngày 19/6/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ