vanban.org

Bản án 83/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

58, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Nhi với ông Vệ"
  • Tòa quyết gì? 58, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L
TỈNH A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17/9/2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hữu Tấn.

2. Ông Lê Thành Thật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh

An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 407/2019/TLST-HNGĐ ngày

20 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 174/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2019 và

Quyết định hoãn phiên tòa số: 148/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 8 năm 2019

giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ 9, ấp N, xã T, thị

xã H, tỉnh K.

2. Bị đơn: Ông Võ Văn V, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số 13/9, khóm Đ, phường

M, thành phố L, tỉnh A.

(Bà Huỳnh Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Võ Văn V vắng mặt lần

thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 20 tháng 6 năm 2019, bản tự khai cùng các

lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị N

trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Đầu năm 2007, bà với ông Võ Văn V tự tìm hiểu và

tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A vào ngày 02 tháng 7 năm 2007. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Võ Văn V thường xuyên cờ bạc, không chăm lo kinh tế gia đình và không quan tâm đến vợ con. Ông bà đã chính thức ly thân từ tháng 02 năm 2013 đến nay. Do tình cảm của vợ chồng dành cho nhau không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn V.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 (hai) con

chung tên Võ Thị Huỳnh M, sinh ngày 28/02/2007 và Võ Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2010 hiện đang do bà Huỳnh Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Khi ly hôn, bà Huỳnh Thị N yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung; bà không yêu cầu ông Võ Văn V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị N trình bày không có, không

yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Võ Văn V đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án nhưng

vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Võ Văn V đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Võ Văn V vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án,

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 02

tháng 8 năm 2019 với lý do bận công việc.

Bị đơn ông Võ Văn V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến về việc tuân

theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau:

Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ cho các đương sự theo quy định tại các Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử vụ án. Thư ký thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến cũng như vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên tòa là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi

kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị N theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn

nhân và Gia đình năm 2014.

- Về con chung: Hiện nay 02 cháu Võ Thị Huỳnh M, sinh ngày 28/02/2007

và Võ Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2010 đang sống với bà N; hai cháu có ý kiến

được tiếp tục chung sống với bà N nếu cha mẹ ly hôn. Bà N xin được chăm sóc

nuôi dưỡng con chung, ông Vệ không có ý kiến đối với yêu cầu của bà N. Xét

thấy, cần phải ổn định về mặt tinh thần cho 02 cháu M, H cũng như ổn định các

điều kiện chăm sóc cho 02 cháu và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho 02 cháu nên

giao 02 cháu cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 58, 81,

82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông Vệ cấp dưỡng nuôi

con chung nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

nên không xem xét đến.

- Về án phí: Bà Huỳnh Thị N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy

định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Huỳnh Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với

ông Võ Văn V nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn của vụ án là ông Võ Văn V có nơi cư trú tại số 13/9, khóm Đô, phường

M, thành phố L, tỉnh A nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm

a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án

nhân dân thành phố L, tỉnh A.

Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ để xác định tình trạng cư trú

của ông Võ Văn V và được Công an phường M, thành phố L, tỉnh A cung cấp

thông tin: Ông Võ Văn V, sinh năm 1978 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số

13/9, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh A. Hiện đi làm ở Thành phố H, thỉnh

thoảng có về thăm nhà và tới lui tại địa chỉ trên. Tòa án cũng đã tống đạt các văn

bản tố tụng hợp lệ cho ông Võ Văn V theo quy định tại Điều 177, Điều 179 Bộ luật

Tố tụng dân sự nhưng ông Võ Văn V vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Xét thấy, sự vắng mặt của ông Võ Văn V không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của

ông và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Võ Văn V là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Huỳnh Thị N có yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét

xử vắng mặt bà N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228

và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn V. [2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn V tự nguyện

tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A theo Giấy chứng nhận kết hôn số 115, quyển số 01, ngày 02/7/2007 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Chứng cứ bà Huỳnh Thị N đưa ra để yêu cầu ly hôn ông Võ Văn V là do

ông Vệ thường xuyên cờ bạc, không chăm lo kinh tế gia đình và không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2013 đến nay. Mặc dù những mâu thuẫn trên đã được cha mẹ hai bên hàn gắn nhưng bà xác định đời sống chung giữa bà và ông V không hạnh phúc, tình cảm của bà dành cho ông Vệ không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Vệ.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt, niêm yết

hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông Võ Văn V vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N. Đồng thời, ông Vệ cũng không thực hiện việc cung cấp, giao nộp chứng cứ và vắng mặt trong các buổi hòa giải theo thông báo của Tòa án. Điều đó chứng tỏ ông V không còn quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm gia đình với bà Huỳnh Thị N, phù hợp với lời trình bày của bà Huỳnh Thị N trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại Biên bản xác minh ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân

thành phố L tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A, thể hiện nội dung: Bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn V là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A vào ngày 02/7/2007. Trong quá trình sống chung ông bà có 02 con chung tên Võ Thị Huỳnh M, sinh ngày 28/02/2007 và Võ Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2010. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly hôn địa phương không rõ.

Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa

vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng

nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống

chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của

nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội và lý do chính đáng khác.

Đối chiếu quy định pháp luật như viện dẫn trên, thấy rằng, thực tế hôn nhân

giữa bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn V đã không còn tồn tại. Ông bà không còn

sống chung và đã ly thân từ tháng 02 năm 2013 đến nay. Đồng thời, ông bà cũng

không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau. Mặt khác, về

phía bà Huỳnh Thị N mặc dù đã được Tòa án nhiều lần tạo điều kiện hòa giải với

ông Võ Văn V nhưng bà Huỳnh Thị N vẫn cương quyết ly hôn với ông Võ Văn V.

Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị N và ông Võ Văn V đã lâm vào

tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích

của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không mang lại hạnh

phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh

Thị N được ly hôn ông Võ Văn V.

[2.2] Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Võ Thị Huỳnh M, sinh

ngày 28/02/2007 và Võ Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2010. Bà Huỳnh Thị N yêu

cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu ông Võ

Văn V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quyền nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Huỳnh Thị N trình

bày, sau khi vợ chồng sống ly thân thì 02 con chung đang sinh sống ổn định cùng

bà. Tại Biên bản ghi nguyện vọng của 02 con chung do Tòa án lập ngày 20 tháng 6

năm 2019 và ngày 15 tháng 7 năm 2019, cháu Võ Thị Huỳnh Ma và Võ Thị Huỳnh

H đều có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn được sinh sống với mẹ là bà Huỳnh

Thị N. Xét thấy, cần thiết ổn định về nơi ở, điều kiện học tập và để đảm bảo ổn

định về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của hai con chung sau khi cha mẹ

ly hôn; Hội đồng xét xử quyết định giao hai con chung Võ Thị Huỳnh M, sinh

ngày 28/02/2007 và Võ Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2010 cho bà Huỳnh Thị N

trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều

58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về chi phí cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Huỳnh Thị N không yêu cầu ông

Võ Văn V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem

xét, giải quyết.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị N trình bày không

có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm a

khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Huỳnh Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004278 ngày 20 tháng 6 năm 2019 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Võ Văn V không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1

Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 232; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều

58, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N.

Bà Huỳnh Thị N được ly hôn ông Võ Văn V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 115, quyển số 01, ngày 02 tháng 7 năm 2007

của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A cấp mang tên Võ Văn V và Huỳnh Thị N không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Võ Thị Huỳnh M,

sinh ngày 28/02/2007 và Võ Thị Huỳnh H, sinh ngày 24/5/2010 cho bà Huỳnh Thị N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi hai con chung thành niên, trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật. Ông Võ Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Huỳnh Thị N không yêu cầu.

Bà Huỳnh Thị N cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho

ông Võ Văn V được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cấm. Việc nuôi con không cố định. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét, giải quyết.

4. Về án phí:

- Bà Huỳnh Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân

sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình; nhưng được khấu trừ vào 300.000đ

(ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí,

lệ phí Tòa án số 0004278 ngày 20 tháng 6 năm 2019 của Chi Cục thi hành án dân

sự thành phố L, tỉnh A. Bà Huỳnh Thị N đã nộp đủ tiền án phí.

- Ông Võ Văn V không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án

dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi

hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có

lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được

tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ