- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Trần Ngọc N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28/8/2019 V/v: "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình" | Yên Thành, ngày 28 tháng 8 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Giang.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dũng.
2. Ông Trần Văn Hân
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia
Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 319/2019/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019 về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2019/QĐST-HPT ngày 16 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V – sinh năm 1990
Địa chỉ cư trú: xóm Đ, xã C, huyện Y, tỉnh N.(có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc N– sinh năm 1989.
Địa chỉ cư trú: xóm Đ, xã C, huyện Y, tỉnh N. (vắng mặt lần 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 17/7/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày: chị và anh Trần Ngọc N kết hôn vào ngày 21/9/2012, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh N. Sau ngày kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, ngày một căng thẳng và trầm trọng. Nguyên nhân chủ yếu: do tính cách không hòa hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra xô xát, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Bản thân chị cũng như hai bên nội ngoại khuyên bàn hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay không còn qua lại, quan hệ gì với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không có khả năng để hàn gắn đoàn tụ được nữa, nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Vợ chồng có con chung là: Trần Nguyễn Hải D – sinh ngày 09/4/2013. Ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung đến lúc trưởng thành, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Ngọc N theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh N vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án không thể làm việc được với anh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Đối với anh Trần Ngọc N. Đây là phiên tòa được mở lần thứ 2 nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.
Đối với chị V, sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử lần 2, chị V có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do sức khỏe và bận công việc, nên Tòa án căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị V.
Xét hôn nhân giữa chị V và anh N là hợp pháp, tuân thủ các quy định của pháp luật. Song qua xem xét thực tế và xác minh tại địa phương thì thấy rằng, cuộc sống của vợ chồng thời gian gần đây không được hạnh phúc, tính cách không hợp nhau. Mâu thuẫn liên tục xảy ra và đã thực sự căng thẳng, trầm trọng, hai bên sống ly thân từ năm 2016 không còn tình cảm gì với nhau nữa. Tòa án đã khuyên bàn nhưng chị V vẫn một mực xin được ly hôn. Xét đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị V xin ly hôn anh N là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị V và anh N có 1 con chung như đã nêu ở trên. Ly hôn chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi con đến lúc trưởng thành, không yêu cầu anh Nghĩa phải cấp dưỡng. Xét nguyện vọng nuôi con của chị V là chính đáng, hiện tại con đang sinh sống cùng chị, thu nhập của chị V ổn định, đảm bảo cho việc nuôi con. Mặt khác, anh N thường xuyên vắng nhà nên không có điều kiện trực tiếp nuôi con. Do đó, cần giao con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cũng là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh N vì chị V không yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 điều 28, khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình.
Xử: Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Trần Ngọc N.
Về con chung: Giao con chung là Trần Nguyễn Hải D – sinh ngày 09/4/2013 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh N.
Anh N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc chị Nguyễn Thị V phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị V đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Thành theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007468 ngày 17/7/2019. Chị V đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Chị V, anh N được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày, nhưng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi gửi: - VKS H. Yên Thành - Các đương sự - THA DS H. Yên Thành - TAND tỉnh - UBND Xã - Lưu hs, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Giang |