- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Lý Thị T và bị đơn ông Võ Thành TM"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Lý Thị T được ly hôn ông Võ Thành TM.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2019 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Văn Phú Hiên.
2. Bà Phùng Thị Khánh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Rư - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 278/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2018, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019 và Thông báo dời lại phiên tòa số 63/TB-TA ngày 04 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý Thị T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ 2, ấp TT, xã LT, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. “Có mặt”
Bị đơn: Ông Võ Thành TM, sinh năm 1989.
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp B, xã P, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ liên lạc: Phân trại XL – Trại giam Thủ Đức thuộc Thôn 1, xã Tân Đức, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. “Có đơn từ chối tham gia tố tụng”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/5/2018, bản khai ngày 08/8/2018, biên bản lấy lời khai ngày 12/11/2018 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Lý Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà Lý Thị T và ông Võ Thành TM kết hôn năm 2008, hôn nhân là tự nguyện, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 17/7/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình chồng tại Tổ A, ấp B, xã P, huyện Xuyên Mộc. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 6/2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông TM không chăm lo làm ăn, không đưa tiền cho bà T để lo cho cuộc sống gia đình và ngoài ra ông TM còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể sống chung, vì vậy cuối năm 2014 bà T đã đưa các con về sống với cha mẹ ruột tại ấp Tân Thuận, xã Long Tân, huyện Đất Đỏ và sống ly thân ông TM từ năm 2014 cho đến nay. Trong thời gian ly thân thì vợ chồng cũng không gặp nhau lần nào để hàn gắn tình cảm. Năm 2018, ông TM phạm tội và bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xử phạt 05 năm tù và đang chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức thuộc tỉnh Bình Thuận. Nay, bà T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và đã đến mức trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông TM.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà Lý Thị T và ông Võ Thành TM có 03 con chung tên là Võ Thị Thanh TY, sinh ngày 15/3/2009; Võ Thị L, sinh ngày 15/11/2010 và Võ Thị Kim P, sinh ngày 25/10/2012. Hiện nay các con chung đang sống với bà T, đều phát triển tốt về thể chất, cũng như tinh thần. Khi ly hôn bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông TM phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2019, bị đơn ông Võ Thành TM trình bày:
Về hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu thì ông Võ Thành TM và bà Lý Thị T kết hôn vào năm 2008, hôn nhân là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, nhưng đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nên năm 2014 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Nay, ông TM nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm vớ bà T nên ông TM đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông Võ Thành TM và bà Lý Thị T có 03 con chung tên là Võ Thị Thanh TY, sinh ngày 15/3/2009; Võ Thị L, sinh ngày 15/11/2010 và Võ Thị Kim P, sinh ngày 25/10/2012. Khi ly hôn ông TM đồng ý nhường quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho bà T và ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định pháp luật.
Đối với các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho bà Lý Thị T được ly hôn ông Võ Thành TM và giao các cháu Võ Thị Thanh TY, Võ Thị L, Võ Thị Kim P cho bà Lý Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Võ Thành TM không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp:
Ông Võ Thành TM có nơi cư trú tại ấp Thạnh Sơn 2A, xã P, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về việc vắng mặt của đương sự: Ngày 20/5/2019, bị đơn ông Võ Thành TM có đơn từ chối tham gia giải quyết vụ án do đang phải chấp hành án phạt tù không thể tham gia tố tụng tại Tòa án. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông Võ Thành TM theo quy định.
. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 150, quyển số 01, ngày 17/7/2008 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xác định hôn nhân giữa bà Lý Thị T và ông Võ Thành TM là hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Võ Thành TM không chăm lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột lẫn nhau. Do không thể sống chung nên hai bên đã sống ly thân từ cuối năm 2014 đến nay, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm cũng như kinh tế. Bà Lý Thị T và ông Võ Thành TM xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cùng thống nhất ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa bà Lý Thị T và ông Võ Thành TM đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Lý Thị T được ly hôn ông Võ Thành TM theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
. Về con chung: Xét yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của bà Lý Thị T thì thấy rằng, từ khi bà T và ông TM ly thân thì bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Võ Thị Thanh TY, sinh ngày 15/3/2009; Võ Thị L, sinh ngày 15/11/2010 và Võ Thị Kim P, sinh ngày 25/10/2012. Khi ly hôn ông TM đồng ý giao các con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; đồng thời cháu TY và cháu L có nguyện vọng được ở với bà T khi bà T và ông TM ly hôn. Vì vậy, cần giao các cháu Võ Thị Thanh TY, Võ Thị L và Võ Thị Kim P cho bà Lý Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Lý Thị T không yêu cầu nên ông Võ Thành TM không phải cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản và nợ chung: Bà Lý Thị T và ông Võ Thành TM không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì bà Lý Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Lý Thị T được ly hôn ông Võ Thành TM.
2. Về con chung: Giao các cháu Võ Thị Thanh TY, sinh ngày 15/3/2009; Võ Thị L, sinh ngày 15/11/2010 và Võ Thị Kim P, sinh ngày 25/10/2012 cho bà Lý Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Võ Thành TM không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Võ Thành TM có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lý Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001661 ngày 30 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Lý Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Xuyên Mộc; - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc; - UBND xã P, huyện Xuyên Mộc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Duy |