vanban.org

Bản án 83/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Kim N. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim N được ly hôn với anh Cao Văn Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Ngân và anh Đức"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 83/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05-11-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHẤN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Ngọc Thành.

Ông Nguyễn Văn Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện VKSND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiển sát viên.

Trong ngày 05/11/2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 420/2019/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim N – sinh năm 1997

Địa chỉ: Ấp T, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Cao Văn Đ – sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp T, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

(Chị N, anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 05/9/2019, các lời khai trong quá trình tố tụng ý kiến của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhận: Chị và anh Đ tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/6/2016.

Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cự cãi và xung đột, cuộc sống không có hạnh phúc cho nên chị và anh Đ đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2017 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Văn Đ.

- Về con chung: Chị và anh Đ có 01 người con chung là: Cao Huỳnh Như Q – sinh ngày 21-03-2017 hiện nay đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2019 ý kiến của bị đơn anh Cao Văn Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhận: Anh thừa nhận, lời trình bày của chị N về quá trình xác lập quan hệ hôn nhân của vợ chồng là đúng sự thật, vợ chồng kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định.

Vợ chồng anh sống hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do chị N xin phép anh và gia đình để về nhà ông bà ngoại của chị N để sinh sống thì anh và gia đình cũng đồng ý nhưng kể từ đó chị N không quay về sống chung với anh nữa, anh cũng đã khuyên can và tác động chị N nhiều lần quay về sống chung với anh nhưng chị N không đồng ý cho nên anh và chị N đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị Huỳnh Thị Kim N.

- Về con chung: Anh và chị N có 01 người con chung là Cao Huỳnh Như Q – sinh ngày 21-03-2017 hiện nay đang do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh đồng ý giao cháo Q cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh Đ nhận được giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị N đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: CMND của chị N (Bản sao); 01 Sổ hộ khẩu (Bản sao); 01 giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính); 01 giấy khai sinh (Bản sao). Bản sao các tài liệu, chứng cứ này bị đơn đã nhận được.

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Biên bản ghi lời khai của anh Đ. Tòa án đã ra thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho chị N biết. Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải chị N không có ý kiến gì và không bổ sung gì thêm.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn anh Đ.

+ Về con chung: Chị N và anh Đ có 01 người con chung là Cao Huỳnh Như Q – sinh ngày 21-03-2017. Giao cháu Q cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh Đ không có không yêu cầu giải quyết, vì vậy không xem xét.

+ Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Chị N có đơn khởi kiện ly hôn , tranh chấp về viê ̣c nuôi con vớ i anh Đ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hô ̣i đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" và xác đi ̣nh chị N là nguyên đơn, anh Đ là bị đơn.

Anh Đ là bị đơn, có nơi cư trú tại ấp T, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.

[1.3] Chị N, anh Đ có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh Đ theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau từ 2016 và có đăng ký kết hôn, được UBND xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai, cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/6/2016. Như vậy, hôn nhân giữa chị N và anh Đ được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị N yêu cầu ly hôn, thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của các đương sự thể hiện: Chị N yêu cầu ly hôn với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cự cãi và xung đột, cuộc sống không có hạnh phúc cho nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2017 cho đến nay . Nay chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Đ thì anh Đ cũng đồng ý ly hôn với chị N.

Xét, chị N và anh Đ hiê ̣n nay đa không cõ

̀n sống chung vớ i nhau, bản thân anh Đ cũng muốn ly hôn với chị N và không mong muốn hòa giải để vợ chồng về sống đoàn tụ với nhau.

Như vậy, có căn cứ xác định chị N và anh Đ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để chị N và anh Đ có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị N và anh Đ có 01 người con chung là Cao Huỳnh Như Q – sinh ngày 21-03-2017. Từ khi chị N và anh Đ ly thân, thì cháu Q do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, anh Đ cũng đồng ý giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. Từ các căn cứ trên, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Q, tránh sự xáo trộn đời sống tâm lý, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Cao Huỳnh Như Q – sinh ngày 21-03-2017 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh Đ kê khai không có, không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị N chịu án phí DSST về yêu cầu ly hôn.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Kim N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim N được ly hôn với anh Cao Văn Đ.

- Về con chung: Giao cháu Cao Huỳnh Như Q – sinh ngày 21-03-2017 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đ được quyền qua lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Vì quyền lợi của con chung chị N, anh Đ có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2/ Về án phí: Chị Huỳnh Thị Kim N phải nộp 300.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị N đã nộp theo biên lai thu số 005647 ngày 09/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú được chuyển thành án phí.

3/ Chị N, anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mườ i lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ