vanban.org

Bản án 83/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng hợp tác

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 14/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tu ên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Thái Th T, sửa bản án sơ thẩm.

Anh Huỳnh Văn M, ch Ngu n Th D phải thanh toán cho bà Thái Th T 26.235.750 đồng (Hai mươi sáu triệu hai trăm ba mươi năm nghìn bả trăm năm mươi đồng). Về án phí:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng hợp tác — án dân sự — "Trâm - Mới"
  • Tòa quyết gì? Tu ên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Thái Th T, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 504 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2019/DS-PT
Ngày: 14 – 11 – 2019
V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thường.

Các Thẩm phán:

Bà Ngu n Thú Liên;

Bà Lê Th Hoài Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Th Phương Thủ là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Th Lệ Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2019/TLPT-DS ngày 28 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng hợp tác.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2019/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân hu ện H, tỉnh Bình Đ nh, b kháng cáo.

Theo Qu ết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 66/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thái Th T, sinh năm 1962; cư trú tại thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh. (CM)

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn M, sinh năm 1989. (VM)

Ch Ngu n Th D, sinh năm 1990. (VM)

Cùng trú tại: Thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh.

- Người làm chứng:

1. Ông Huỳnh B, sinh năm 1950. (VM)

2. Bà Ngu n Th L. (VM)

Cùng cư trú tại: Thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh.

3. Anh Ngu n Minh T; cư trú tại thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh. (VM)

4. Ông Ngu n Văn L. (VM)

Bà Ngu n Th Đ. (VM)

Cùng cư trú tại: Thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh.

5. Bà Bùi Th H, sinh năm 1966. (VM)

6. Bà Huỳnh Th P, sinh năm 1965. (VM)

7. Bà Đinh Th Đ, sinh năm 1961. (VM)

Cùng cư trú tại thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh.

8. Bà Bùi Th G, sinh năm 1970; cư trú tại thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh. (VM)

9. Bà Trần Th D, sinh năm 1964; cư trú tại thôn T, xã T, hu ện H, tỉnh Bình Đ nh. (VM)

- Người kháng cáo: Bà Thái Th T là ngu ên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Thái Thị T trình bày:

Vào năm 2014 bà T có chung hùn với vợ chồng anh M và ch D ¼ tàu cá biển số BĐ 96376-TS với số tiền 110.000.000 đồng, đứng tên anh M; giá tr tàu cá khi chung hùn 440.000.000 đồng.

Đến tháng 10 năm 2016, anh M bán tàu BĐ 96376-TS 335.000.000 đồng, tr chi phí bán tàu cá và làm giấ tờ 15.483.000 đồng, còn lại 339.517.000 đồng phải chia thành bốn phần, mỗi phần là 84.879.000 đồng.

Nhưng anh M, ch D giao cho bà T 24.180.000 đồng và giao cho anh Thống con bà T nhận số tài sản tr giá 20.000.000 đồng; tổng cộng 44.180.000 đồng. Na bà êu cầu Tòa án giải qu ết buộc anh M, ch D trả cho bà số tiền còn lại 40.699.000 đồng.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử bị đơn anh Huỳnh Văn M và chị Nguyễn Thị D trình bày:

Vào tháng 06 năm 2013, bà T có chung hùn với anh M, ch D tàu cá biển số BĐ 96376-TS, giá tr phần hùn của bà T là 110.000.000 đồng tương ứng với phần hùn ¼ tàu cá. Sau đó, anh M đổi má c – Min 444 tr giá 145.000.000 đồng để đánh bắt cá ở biển lớn. Khi đổi má , vợ chồng anh ch mượn của Công t H 95.000.000 đồng. Má c của ghe bán được số tiền là 50.000.000 đồng cộng số tiền bán má c và số tiền mượn Công t H, anh M ch D mua má mới. Tổng số tiền cả mua má và hoàn thiện má mới để đánh bắt 200.000.000 đồng; tăng 55.000.000 đồng là tiền của anh M, ch D. Những việc nà đều đã thông báo và được bà T đồng ý.

Trước khi bà T tham gia hùn thì tàu cá nà đã có những người khác tham gia chung hùn. Khi đó, để phục vụ cho tàu cá hoạt động, anh M, ch D có mua dầu đá của Công t H là 50.000.000 đồng. Khi những người nà không chung hùn nữa, bà T vào chung hùn thay thì c ng thống nhất 50.000.000 đồng nà là tiền nợ chung và anh ch có mua cá vặt của H là 25.000.000 đồng, bà T c ng thống nhất 25.000.000 đồng nà là nợ chung nên vợ chồng anh ch mới đồng ý cho bà T tham gia chung hùn.

Năm 2014, anh ch nhận tiền dầu và đã trả cho Công t H 40.000.000 đồng. Ngoài ra, còn nợ tiền dầu của Công t H hai lần, một lần vào năm 2014 là 9.180.000 đồng, một lần vào năm 2016 là 2.854.000 đồng. Số tiền còn nợ phải trả cho Công t H là: Tiền mua má mới 55.000.000 đồng, tiền mua dầu đá 50.000.000 đồng, tiền mua dầu 12.034.000 đồng; tổng cộng 117.034.000 đồng.

Vào tháng 11 năm 2013, tàu cá gặp sự cố ngoài biển nên có mua sắm lại thiết b của bà G 11.632.000 đồng và làm nước của bà P 11.030.000 đồng. Cùng trong tháng 11 năm 2013, anh ch có mua đồ khô của bà Đ để bỏ biển 5.065.000 đồng. Bà T c ng biết về việc nà . Tổng số tiền nợ còn phải trả 169.761.000 đồng.

Đến năm 2016, anh ch bán tàu cá 335.000.000 đồng. Một số trang thiết b không bán cùng với ghe để lại cho con trai bà T là: Một môtơ phát điện, 15 tăng phô, 15 bóng, một kìm dập và một số dụng cụ khác. Tổng cộng 20.000.000 đồng. Số tiền dụng cụ nà được cộng vào số tiền bán tàu cá 355.000.000 đồng, chi phí để làm giấ tờ 15.483.000 đồng.

Tổng số tiền sau khi bán tàu cá tr đi các khoản nợ và chi phí còn lại 169.756.000 đồng, được chia cho bốn phần hùn, mỗi phần hùn được nhận là 42.439.000 đồng. Vợ chồng anh ch đã giao cho bà T 24.180.000 đồng và các tài sản con bà T nhận tr giá 20.000.000 đồng; tổng cộng 44.180.000 đồng. Như vậ đã thanh toán xong, không còn nợ gì phải trả cho bà T.

Bản án sơ thẩm số 48/2019/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Định quyết định:

Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của bà T êu cầu anh M, ch D trả cho bà 40.699.000 đồng.

Đình chỉ êu cầu khởi kiện của bà T đối với êu cầu chia tiền Nhà nước hỗ trợ tiền dầu và êu cầu chia số tiền bán tài sản còn lại của tàu cá BĐ 96376-TS.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn qu ết đ nh về án phí dân sự sơ thẩm và qu ền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 13/5/2019, bà Thái Th T kháng cáo êu cầu anh M, ch D trả cho bà 40.699.000 đồng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng qu đ nh của pháp luật tố tụng; đồng thời đề ngh nhận một phần kháng cáo của bà T, sửa bản án sơ thẩm buộc anh M, ch D phải thanh toán cho bà T 26.235.750đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Anh Huỳnh Văn M, ch Ngu n Th D đã được Tòa triệu tập hợp lệ hơn 2 lần nhưng vắng mặt không có lý do nên theo qu đ nh tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

n sơ thẩm không chấp nhận êu cầu khởi kiện của bà T buộc anh M, ch D trả cho bà 40.699.000 đồng là chưa đúng qu đ nh pháp luật. Bởi l :

[2.1 Các bên đương sự đều thống nhất: Bà T có chung hùn với vợ chồng anh M, ch D tàu cá biển số BĐ 96376-TS, giá tr phần hùn của bà T là 110.000.000 đồng tương ứng với phần hùn ¼ tàu cá. Đến năm 2016 bán tàu cá 335.000.000 đồng. Trong đó có một số trang thiết b không bán cùng với ghe để lại cho con trai bà T 20.000.000 đồng được cộng vào số tiền bán tàu cá 355.000.000 đồng, chi phí để làm giấ tờ 15.483.000 đồng. Như vậ , giá tr tàu cá còn lại sau khi bán 339.517.000đ.

Về thời gian chung hùn: Theo bà T khai thời gian chung hùn tháng 6/2014 và đổi má mới và hoàn thiện tháng 7/2014 nhưng anh M và ch D không thống nhất, còn anh M, ch D khai thời gian chung hùn và đổi má mới tháng 06/2013, nhưng theo bản tự khai ngà 24/4/2017 (BL 88) anh M, ch D khai “nguyên vào năm 2014 bà Thái Thị T có hùn ¼ với tôi …”. Như vậ , căn cứ xác đ nh thời gian chung hùn là năm 2014.

Anh M, ch D khai các nợ chung phải trả 169.761.000đ nhưng bà T không chấp nhận. Thấ r ng:

Khoản nợ 55.000.000đ Công t H, theo anh M, ch D khai sau khi chung hùn, đổi má c Min 444 tr giá 145.000.000đ để đánh bắt cá ở biển lớn. sau khi bù tr tăng 55.000.000đ. Bà T đều thống nhất nội dung nà ; bà T không th a nhận nhưng cho r ng số tiền thiếu mỗi phần hùn vào cho đủ nhưng không nhớ đã góp bao nhiêu còn tại Biên bản đối chất ngà 02/8/2017 khai bà T đã trả vào tháng 2/2015 khi nhận tiền dầu 75.000.000đ cùng với tiền lời t chu ến đi biển đã trả hết; như vậ lời khai của bà T không thống nhất, ngoài ra bà T không có chứng cứ chứng minh trong khi đó anh M, ch D không th a nhận. Mặt khác, tại bản khai ngà 30/7/2018 bà T khai nhận được tiền dầu 56.250.000đ {(75.000.000đ x 3 chu ến) : 4 phần hùn}. Do đó, Toà án sơ thẩm Toà án chấp nhận khoản nợ nà nợ chung là đúng qu đ nh pháp luật.

Khoản nợ dầu năm 2014 của Công t H 9.180.000đ là nợ t 02 năm trước khi bán ghe năm 2016, trong khi đó thời gian chung hùn năm 2014, c ng như bà T khai thanh toán theo chu ến biển. Lời khai của bà Trần Th D không thể hiện thời gian trả khoản tiền nà . Do đó, Toà án sơ thẩm Toà án chấp nhận khoản nợ nà nợ chung là không đúng qu đ nh pháp luật.

Khoản nợ dầu năm 2016 là 2.854.000đ đâ là nợ phát sinh năm 2016 trong thời gian chung hùn nên đâ là nợ chung. Do đó, Toà án sơ thẩm Toà án chấp nhận khoản nợ nà nợ chung là đúng qu đ nh pháp luật.

Khoản nợ H 25.000.000đ; theo anh M, ch D khai khoản nợ nà trước khi bà T tham gia chung hùn và bà T biết về việc nà nhưng bà T khai không biết số tiền nà ; còn lời khai người làm chứng bà Trần Th H khai nợ năm 2013 và đã trả đủ sau khi bán ghe. Như vậ , 25.000.000đ là nợ trước khi bà T tham gia chung hùn, trong khi đó anh M, ch D không chứng minh được khoản tiền nà bà T biết và đồng ý. Do đó, Toà án sơ thẩm Toà án chấp nhận khoản nợ nà nợ chung là không đúng qu đ nh pháp luật.

Khoản nợ G 11.632.000đ; theo giấ thanh toán của hiệu buôn G mà b đơn cung cấp (BL 46) ghi tên khách hàng là ghe Mới (Thành là người hùn trước bà T là Trần Minh T) và ghi các khoản nợ là các ngà 12, 13, 17, 27/11/2013 tổng số tiền 6.632.000đ là trước thời gian chung hùn với bà T. Tại giấ b đơn cung cấp (BL 45) ghi ngà 27/3/2013 tổn 10.573.000đ – gửi 5.573.000đ = 5.000.000đ đâ là trước thời gian chung hùn với bà T. Do đó, Toà án sơ thẩm Toà án chấp nhận khoản nợ nà nợ chung là không đúng qu đ nh pháp luật.

Khoản nợ bà P 11.030.000đ; theo bà Huỳnh Th Phượng khai t năm 2013 đến 2015 anh M, ch D làm nước và sửa chữa ghe nợ 11.030.000đ và trả dần nhiều lần đến tháng 4/2017 thì trả nợ xong. Đối chiếu tại giấ ghi 96376 Mới Bương b đơn cung cấp (BL 44) ghi ngà t ngà 16/6/2013 AL đến 26/6/2013 AL tổng 12.908.800đ – 6.900.000đ gửi ngà 09/8/2013 = 6.008.800đ, đâ là khoản nợ trước thời gian chung hùn với bà T. Do đó, Toà án sơ thẩm Toà án chấp nhận khoản nợ nà nợ chung là không đúng qu đ nh pháp luật.

Khoản nợ Tạp hoá Cô Đ mà b đơn cung cấp ghi khoản nợ ngà 16/11/2013 tổng 5.065.000đ đâ là khoản nợ trước thời gian chung hùn năm 2014. Do đó, Toà án sơ thẩm Toà án chấp nhận khoản nợ nà nợ chung là không đúng qu đ nh pháp luật.

T những nhận đ nh trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà T sửa bản án sơ thẩm buộc anh M, ch D phải thanh toán cho bà T 26.235.750đ [{(339.517.000đ giá tr tàu cá còn lại sau khi bán - 57.854.000đ nợ chung) : 4 phần hùn} - 44.180.000đ đã giao trước].

Theo khoản 7 Điều 27 Ngh Qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì anh M, ch D phải ch u 1.311.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, còn bà T không phải ch u án phí dân sự sơ thẩm.

Theo khoản 2 Điều 29 Ngh Qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bà T không phải ch u án phí dân sự phúc phẩm.

[5 Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu đề ngh nhận một phần kháng cáo của bà T, sửa bản án sơ thẩm buộc anh M, ch D phải thanh toán cho bà T 26.235.750đ là phù hợp với nhận đ nh trên của Hội đồng xét xử.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 504, khoản 2 Điều 512 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 7 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Ngh Qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tu ên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Thái Th T, sửa bản án sơ thẩm.

1. Anh Huỳnh Văn M, ch Ngu n Th D phải thanh toán cho bà Thái Th T 26.235.750 đồng (Hai mươi sáu triệu hai trăm ba mươi năm nghìn bả trăm năm mươi đồng).

2. Về án phí:

2.1. Anh Huỳnh Văn M, ch Ngu n Th D phải ch u 1.311.000 đồng (Một triệu ba trăm ba mươi một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Bà Thái Th T được nhận lại 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002147 ngà 12 tháng 6 năm 2017; 1.623.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003585 ngà 26 tháng 9 năm 2017; 1.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002059 ngà 24 tháng 4 năm 2017 và 300.000đ theo Biên lai thu tiền số 0005087 ngà 13/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự hu ện Hoài N.

3. Về qu ền, nghĩa vụ thi hành án:

3.1. Kể t ngà có đơn êu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qu đ nh tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tr trường hợp pháp luật có qu đ nh khác.

3.2. Trường hợp bản án, qu ết đ nh được thi hành theo qu đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo qu đ nh tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qu đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngà tu ên án.

Cỡ chữ