vanban.org

Bản án 83/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Lưu Văn M 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ kể từ ngày 17 tháng 12 năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2018/HS-ST
Ngày 09 tháng 5 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huynh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Kim Triều

Ông Trần Quang Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Sỹ Hùng là thư ký Tòa án Nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Văn M, Tên gọi khác: M đầu dế, giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/02/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: X Nguyễn Trãi, phường Bển Thành, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: X Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Phú, Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Văn Đ (đã chết) mẹ: Lưu Thị H (sinh năm: 1967); Gia đình bị cáo có 02 anh, chị em Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;Vợ, con: Chưa có

Tiền án: 01 tiền án.

- Ngày 31/7/2015, bị Công an Quận 1, Tp. HCM bắt giữ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án nhân dân Quận 1, Tp. HCM xử phạt 15 tháng tù giam tại bản án số 320/2015/HSST ngày 30/11/2015. Đến ngày 30/9/2016, được tha tù về địa phương.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt và bị tạm giam từ ngày 17/12/2017 và có mặt tại phiên tòa

- Người tham gia tố tụng khác:

Bị hại:

- Anh Nguyễn Thành T (vắng mặt)

Địa chỉ: X Vạn Kiếp, Phường 3, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phạm Thị Bích Tr (có mặt)

Địa chỉ: X Vĩnh Viễn, Phường 4, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.

- Anh Nguyễn Hữu Tr2 (vắng mặt)

Địa chỉ: X Vĩnh Viễn, Phường 4, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh.

Người làm chứng:

- Anh Trần Đức M2 (vắng mặt)

Địa chỉ: X Cao Thắng, Phường 12, Quận 10, Tp. Hồ Chí Minh

- Anh Nguyễn Thái D (vắng mặt)

Địa chỉ:XTôn ThấtĐạm, phườngBếnNghé,Quận1,Tp.HồChí Minh.

- Anh Phạm Trọng N (vắng mặt)

Địa chỉ X Trần Phú, Phường 8, Quận 5, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lưu Văn M rủ Phạm Thị Bích Tr (là bạn gái) cùng đi trộm cắp chụp mâm, logo xe ôtô các loại và Tr đồng ý. Vào khoảng 02 giờ ngày 17/12/2017, Minh điều khiển xe gắn máy biển số 52U4 - 5128 chở Tr ngồi phía sau đi lòng vòng tìm tài sản trộm cắp từ Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh qua Quận 4 rồi đến Quận 1 thì phát hiện xe ô tô 04 chỗ ngồi hiệu Toyota Vios biển số 51G- 370.36 do anh Nguyễn Thành T điều khiển đang dừng đỗ xe trước số X Trần Hưng Đạo, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh. Lúc này, M thấy anh T đang nằm trong xe ngủ nên dừng lại, xuống xe để Tr ngồi trên xe cảnh giới đến dùng tua vít cạy lấy 04 chụp mâm bánh xe rồi ra xe máy cầm lái chở Tr bỏ đi đến đầu cầu Cầu Ông Lãnh, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1 thì bị các anh Trần Đức M2, Nguyễn Thái D (là trinh sát Đội Cảnh sát Hình sự Công an Quận 1) cùng anh Phạm Trọng N (là người đi đường) chứng kiến bắt giữ cùng tang vật giao Công an Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 xử lý.

Quá trình điều tra, Lưu Văn M và Phạm Thị Bích Tr khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai người bị hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra Công an Quận 1 đã thu thập được.

Ngoài ra, còn thu giữ của Minh 01 túi nylon bên trong có: 04 chiếc chụp mâm xe Huyndai, 04 chiếc chụp mâm xe Ford, 08 chiếc chụp mâm xe Chevrolet, 02 logo xe Chevrolet và 02 logo xe Toyota. Minh khai nhận đã lấy trộm 07 chiếc chụp mâm bánh xe hiệu Chevrolet, 02 logo xe hiệu Chevrolet, 02 logo xe hiệu Toyota tại giao lộ Lương Hữu Khánh - Bùi Thị Xuân, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, số còn lại M khai nhận lấy trộm được trên địa bàn Quận 4 và Quận 7 nhưng không nhớ rõ cụ thể ở đâu. Qua xác minh tại Công an Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 không có tiếp nhận vụ việc trình báo bị mất trộm chụp mâm, logo xe ôtô tại giao lộ Lương Hữu Khánh - Bùi Thị Xuân, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 đã đăng báo tìm chủ sở hữu và thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 4 và Quận 7 để thụ lý theo thẩm quyền nhưng đến nay chưa có ai đến trình báo. Do chưa xác định được người bị hại nên chưa đủ cơ sở xử lý đối với Minh đối với số tang vật này, khi nào làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.

Riêng đối với Phạm Thị Bích Tr qua xác minh vào ngày 04/01/1997, bị Tòa án nhân dân Quận Tân Bình xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cướp giật tài sản công dân”, đã được xóa án tích. Do trị giá tài sản trộm cắp lần phạm tội này dưới 2.000.000đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 không xử lý hình sự mà ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Tr là có cơ sở.

* Vật chứng vụ án gồm có:

- 04 chiếc chụp mâm bánh xe hiệu Toyota Vios, qua kết luận định giá tài sản số 293/KLĐGTS ngày 25/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của ủy ban nhân dân Quận 1 trị giá 233.000 đồng (đã thu hồi trả lại cho ngưòi bị hại là anh Nguyễn Thành T; anh T không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

- 01 cây tua vít dài khoảng 22cm có cán màu đen, đầu dẹp;

- 01 xe gắn máy biển số 52U4-5128. Qua xác minh xe do anh Nguyễn Hữu Tr2 (SN: 1984; HKTT: 87 Vĩnh Viễn, phường 4, Quận 10) là anh ruột của Phạm Thị Bích Tr đứng tên đăng ký sở hữu. Ngày 17/12/2017, anh Tr2 có cho M và Tr mượn xe để đi công việc và không biết việc Minh và Tr sử dụng xe máy làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản.

- 01 túi nylon bên trong có: 04 chiếc chụp mâm xe Huyndai, 04 chiếc chụp mâm xe Ford, 08 chiếc chụp mâm xe Chevrolet, 02 logo xe Chevrolet và 02 logo xe Toyota. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 đã đăng báo tìm chủ sở hữu và thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 4 và Quận 7 để thụ lý theo thẩm quyền nhưng đến nay chưa có ai đến trình báo.

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 đang tạm giữ số vật chứng trên.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:

+ Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng số 52/CTr ngày 26 tháng 02 năm 2018 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây tua vít dài khoảng 22cm có cán màu đen, đầu dẹp;

- Trả lại cho anh Nguyễn Hữu Tr2 xe gắn máy biển số 52U4-5128.

- Tiếp tục lưu giữ 01 túi nylon bên trong có: 04 chiếc chụp mâm xe Huyndai, 04 chiếc chụp mâm xe Ford, 08 chiếc chụp mâm xe Chevrolet, 02 logo xe Chevrolet và 02 logo xe Toyota để cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 tiếp tục điều tra xác minh hành vi phạm tội.

- Bị cáo thống nhất tội danh và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an Quận 1, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Lưu Văn Minh phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xét: Phạm Thị Bích Tr từng có bị Tòa án nhân dân Quận Tân Bình xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Cướp giật tài sản công dân” vào ngày 04/01/1997 nhưng đã được xóa án tích. Do trị giá tài sản trộm cắp theo kết luận định giá dưới 2.000.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 không xử lý hình sự mà ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Tr là có cơ sở.

Xét: Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Cần phải xử lý nghiêm khắc bị cáo trước pháp luật tương ứng với hành vi phạm tội để giáo dục và bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy: công cụ phạm tội 01 cây tua vít dài khoảng 22cm có cán màu đen, đầu dẹp;

- Trả lại cho anh Nguyễn Hữu Tr2 xe gắn máy biển số 52U4-5128.

- Tiếp tục lưu giữ 01 túi nylon bên trong có: 04 chiếc chụp mâm xe Huyndai, 04 chiếc chụp mâm xe Ford, 08 chiếc chụp mâm xe Chevrolet, 02 logo xe Chevrolet và 02 logo xe Toyota để cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 tiếp tục điều tra xác minh làm rõ hành vi phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Căn cứ khoản 1 Điều 138, điểm điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt bị cáo Lưu Văn M 02 năm tù.

Thời hạn tù tính từ kể từ ngày 17 tháng 12 năm 2017.

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự ;

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 cây tua vít dài khoảng 22cm có cán màu đen, đầu dẹp;

+ Trả lại cho anh Nguyễn Hữu Tr2 xe gắn máy biển số 52U4-5128 số máy: VLF1P52FMH430025183, số khung: VPDPCH034PD425183.

+ Tiếp tục lưu giữ 01 túi nylon bên trong có: 04 chiếc chụp mâm xe Huyndai, 04 chiếc chụp mâm xe Ford, 08 chiếc chụp mâm xe Chevrolet, 02 logo xe Chevrolet và 02 logo xe Toyota để cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1 tiếp tục điều tra xác minh làm rõ hành vi phạm tội.

Tất cả theo phiếu nhập kho vật chứng số 43/18/PNK ngày 22 tháng 12 năm 2017 của Công an Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, Khoản 1 Điều Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

-Căn Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo, chị Phạm Thị Bích Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Hữu Tr2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ