- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Lê Thị S và anh Phạm Hồng T. Chị Lê Thị S được ly hôn anh Phạm Hồng T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2018/HNGĐ-ST Ngày 03/7/2018 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Long.
2. Bà Lê Thị Lệ Thi.
-Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tấn Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2018; Thông báo thay đổi ngày xét xử 32/2018/TB-TA ngày 06/6/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị S, sinh năm 1 8 , c m t
Địa chỉ: Đội 2, thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Chỗ ở hiện nay: 8 THT, phư ng T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Anh Phạm Hồng T, sinh năm 1 8 , c m t
Địa chỉ: Đội 2, thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2018; bản tự khai ngày 28/3/2018, biên bản hòa giải ngày 28/5/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lê Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Hồng T trước khi kết hôn c tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 30 tháng 6 năm 2010, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không c ng quan điểm sống, nên vợ chồng thư ng xuyên cải nhau. Anh T ăn nhậu về nhà đánh đập chị S nhiều lần, c lần chị S phải nh chính quyền địa phương can thiệp do đ chị đã ôm con bỏ đi và thuê phòng trọ ở từ tháng 12/2016 và vợ chồng sống ly thân từ đ đến nay.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị S không còn thương yêu anh T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị S được ly hôn anh Phạm Hồng T.
Về con chung: Vợ chồng c 01 ngư i con chung tên là Phạm Hồng Â, sinh ngày 08/3/2011, hiện đang do chị S nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con, yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Không c vợ chồng không nợ ai, không ai vay mượn của vợ chồng.
Tại bản tự khai ngày 23/5/2018, biên bản hòa giải ngày 28/5/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Phạm Hồng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Việc tìm hiểu và kết hôn đúng như chị S trình bày. Còn nguyên nhân mâu thuẫn của hai vợ chồng mà chị S đã trình bày thì không đúng sự thật, là hoàn toàn không c cơ sở. Trước đây vào ngày 25/8/201 Tòa án c m i vợ chồng đến để giải quyết việc ly hôn, nhưng sau khi hòa giải không được thì hẹn ngày để hòa giải tiếp và vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/201 đến nay. Ngày 26/8/2017 anh T theo dõi và bắt quả tang vợ anh ngoại tình với ngư i đàn ông khác và anh có báo cáo Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam lập biên bản, sau đ chị S rút đơn khởi kiện và nay chị S lại tiếp tục nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, vì vậy anh T đồng ý ly hôn với chị S.
Về con chung: Vợ chồng c 01 ngư i con chung tên là Phạm Hồng Â, sinh ngày 08/3/2011 hiện đang do chị S nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị S cấp dưỡng. Nếu chị S trực tiếp nuôi con thì phải về ngủ hằng đêm với con, chị S không được cản trở việc thăm con thì anh T đồng ý giao con cho chị S nuôi và anh chịu cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Không c vợ chồng không nợ ai, không ai vay mượn của vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu c trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/5/2018, chị Lê Thị S và anh Phạm Hồng T thỏa thuận như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị S và anh Phạm Hồng T thuận tình ly hôn.
Về con chung: Chị Lê Thị S thì yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Phạm Hồng Â, sinh ngày 08/3/2011 vì hiện nay cháu  đang do chị nuôi dưỡng, đồng th i cháu  c nguyện vọng ở với chị chị S yêu cầu anh Phạm Hồng T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Còn anh Phạm Hồng T thì không thống nhất giao cháu  cho chị S nuôi dưỡng mà yêu cầu chị S giao cháu Phạm Hồng Â, hiện đang do chị S nuôi dưỡng cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không c vợ chồng không nợ ai, không ai vay mượn của vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị S và anh Phạm Hồng T c đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 30 tháng 6 năm 2010 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị S và anh T phát sinh mâu thuẫn, Chị S cho rằng: Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, không c ng quan điểm sống, nên vợ chồng thư ng xuyên cải nhau; anh T ăn nhậu, về nhà đánh đập chị nhiều lần, vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2016 đến nay còn anh T thì cho rằng: chị S đã ngoại tình với ngư i đàn ông khác. Quá trình phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nh gia đình khuyên bảo và đã được Tòa án hòa giải nhưng không hàn gắn được. Tại phiên tòa anh Phạm Hồng T đồng ý ly hôn chị Lê Thị S căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Lê Thị S và anh Phạm Hồng T. Chị Lê Thị S được ly hôn anh Phạm Hồng T.
Về con chung: Chị S và anh T c 01 ngư i con tên là Phạm Hồng Â, sinh ngày 08/3/2011 hiện đang do chị S nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con. Xét yêu cầu của chị S là chính đáng, chị c việc làm và thu nhập ổn định, cháu  c đơn nguyện vọng được sống với mẹ và tại phiên tòa cháu cũng xin được ở với mẹ và cháu đang ở với chị S nên cần c sự chăm s c gần gủi của ngư i mẹ do đ Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Hồng  cho chị Lê Thị S tiếp tục trông nom, chăm s c, nuôi dưỡng là ph hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét việc chị S yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đã được quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình tại phiên tòa anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng) cho đến khi cháu Phạm Hồng  đủ 18 tuổi, th i gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 8 năm 2018.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không xét.
Chị Lê Thị S, anh Phạm Hồng T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Các đương sự c quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình Điều 26, 2 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội
Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Lê Thị S và anh Phạm Hồng T. Chị Lê Thị S được ly hôn anh Phạm Hồng T.
Về con chung: Giao cháu Phạm Hồng Â, sinh ngày 08/3/2011 hiện đang do chị S nuôi dưỡng cho chị Lê Thị S tiếp tục trông nom, chăm s c, nuôi dưỡng anh Phạm Hồng T c nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu ) đồng. Th i gian cấp dưỡng từ tháng 8/2018 đến khi cháu Phạm Hồng  đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, ngư i không trực tiếp nuôi con c quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngư i trực tiếp nuôi con c ng các thành viên gia đình không được cản trở ngư i không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm s c, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trư ng hợp c yêu cầu của cha, mẹ ho c cơ quan tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án c thể quyết định việc thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung:: Không có, nên không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị S phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000749 ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, chị S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm anh Phạm Hồng T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Kháng cáo: Chị Lê Thị S, anh Phạm Hồng T c m t tại phiên tòa c quyền kháng cáo bản án này trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - UBND xã T; - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Hoàng |