- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Bản án Lao động sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TÒTÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2017/LĐ-ST Ngày: 19-12-2017 V/v tranh chấp chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tuấn Nhu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Phi Yến
2. Bà Nguyễn Thị Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh, kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2017 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2017/TLST-LĐ ngày 18 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2017/QĐXXST-LĐ ngày 01 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim H, năm sinh 1990; địa chỉ cư trú: ấp 2, xã TH, huyện Đ, tỉnh C; địa chỉ liên lạc: 71/37 Đường U, Phường G, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt);
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L; địa chỉ: 22 Đường P, Phường Z, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Lan A; Chức vụ: Giám đốc (xin vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Thị Kim H trình bày: Ngày 03 tháng 5 năm 2017, bà Lê Thị Kim H vào làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch
1
vụ và Vận chuyển quốc tế L. Trong quá trình làm việc giữa hai bên có ký 02 hợp đồng lao động với thời hạn 01 năm và 03 năm nhưng bà Lê Thị Kim H đã làm thất lạc các hợp đồng lao động nêu trên. Ngày 03 tháng 02 năm 2017, bà Lê Thị Kim H có đơn xin nghỉ việc gửi đến Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L và được bộ phận nhân sự xác nhận qua email và đến ngày 20 tháng 3 năm 2017 thì bà Lê Thị Kim H chính thức nghỉ việc. Bà Lê Thị Kim H đã nhiều lần liên hệ với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L để yêu cầu chốt và trả sổ Bảo hiểm xã hội và thanh toán tiền lương tháng 3 năm 2017. Bà Lê Thị Kim H đã làm đơn khiếu nại lên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Tân Bình để hòa giải nhưng không thành. Nay, bà Lê Thị Kim H khởi kiện yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L thanh toán tiền lương từ ngày 01 tháng 3 năm 2017 đến ngày 20 tháng 3 năm 2017 với số tiền 4.300.000 đồng; đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội đến hết tháng 3 năm 2017; chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội và Bồi thường tiền Bảo hiểm thất nghiệp do chậm trễ chốt sổ bảo hiểm xã hội: 6.300.000 đồng.
Ngày 02 tháng 8 năm 2017, bà Lê Thị Kim H có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L thanh toán tiền lương từ ngày 01 tháng 3 năm 2017 đến ngày 20 tháng 3 năm 2017 với số tiền 4.300.000 đồng và không yêu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L bồi thường tiền bảo hiểm thất nghiệp do chậm trễ chốt sổ bảo hiểm xã hội: 6.300.000 đồng mà chỉ yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L chốt sổ bảo hiểm xã hội đến hết tháng 3 năm 2017 và trả sổ bảo hiểm xã hội. Đồng thời, bà Lê Thị Kim H yêu cầu xin vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và xét xử của Tòa án.
Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L có bà Lê Thị Lan A là người đại diện theo pháp luật trình bày: Ngày 01 tháng 6 năm 2014, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L ký hợp đồng lao động với bà Lê Thị Kim H thời hạn 03 năm, vị trí: kế toán với mức lương 3.000.000 đồng/tháng. Ngày 03 tháng 02 năm 2017 bà Lê Thị Kim H có đơn xin nghỉ việc. Ngày 20 tháng 3 năm 2017 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với bà Lê Thị Kim H và đã thông báo cho bà Lê Thị Kim H đến công ty để nhận quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động và làm các thủ tục bàn giao nhưng bà Lê Thị Kim H không đến công ty. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho bà Lê Thị Kim H trong thời gian làm việc tại công ty và đã liên hệ với bà Lê Thị Kim H để lấy sổ bảo hiểm xã hội cũng như liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội để làm thủ tục chốt sổ nhưng bà Lê Thị Kim H không đến.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Kim H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu
2
cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L thanh toán tiền lương từ ngày 01 tháng 3 năm 2017 đến ngày 20 tháng 3 năm 2017 với số tiền 4.300.000 đồng và không yêu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L bồi thường tiền bảo hiểm thất nghiệp do chậm trễ chốt sổ bảo hiểm xã hội: 6.300.000 đồng mà chỉ yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L chốt sổ bảo hiểm xã hội đến hết tháng 3 năm 2017 và trả sổ bảo hiểm xã hội.
Bà Lê Thị Lan A - người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Xét, bà Lê Thị Kim H yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là quan hệ tranh chấp về Bảo hiểm xã hội theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân năm 2015.
Xét, tại Đơn bổ sung khởi kiện ngày 28 tháng 6 năm 2017 và Đơn xin rút một phần khởi kiện ngày 02 tháng 8 năm 2017 của bà Lê Thị Kim H là không yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L thanh toán tiền lương từ ngày 01 tháng 3 năm 2017 đến ngày 20 tháng 3 năm 2017 với số tiền 4.300.000 đồng và không yêu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L bồi thường tiền bảo hiểm thất nghiệp do chậm trễ chốt sổ bảo hiểm xã hội 6.300.000 đồng. Xét việc thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim H là phù hợp với khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền: Xét, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L có địa chỉ tại: địa chỉ: 22 Đường P, Phường L, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bà Lê Thị Kim H khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình là đúng quy định của pháp luật.
Xét, yêu cầu chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội của bà Lê Thị Kim H, Hội đồng xét xử nhận định:
3
Căn cứ Hợp đồng lao động số: 16/HĐLĐ 2014 ngày 01 tháng 6 năm 2014 thì bà Lê Thị Kim H làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L có thời gian từ ngày 01 tháng 6 năm 2014 đến ngày 01 tháng 6 năm 2017. Nay, bà Lê Thị Kim H khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L để yêu cầu chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội. Như vậy, việc tranh chấp giữa bà Lê Thị Kim H với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L là quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Xét, ngày 03 tháng 02 năm 2017 bà Lê Thị Kim H có đơn xin thôi việc gửi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L và ngày 20 tháng 3 năm 2017 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L ban hành quyết định số: 0103-LATTT/QĐ-CT ngày 20 tháng 3 năm 2017 về việc cho thôi việc đối với người lao động là bà Lê Thị Kim H. Việc chấm dứt hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Kim H và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, việc chấm dứt hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Kim H và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L có liên quan đến việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Kim H là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
Xét, yêu cầu chốt sổ bảo hiểm xã hội: Bà Lê Thị Kim H yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L chốt sổ bảo hiểm xã hội đến hết ngày 30 tháng 3 năm 2017. Phía Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L cũng xác nhận từ khi bà Lê Thị Kim H vào làm việc cho đến khi nghỉ việc thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L đã đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Kim H; Hội đồng xét xử xét thấy ngày 20 tháng 3 năm 2014 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L đã ban hành quyết định số 0103-LATTT/QĐ-CT về việc cho thôi việc đối với bà Lê Thị Kim H. Như vậy quan hệ lao động giữa bà Lê Thị Kim H với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L đã chấm dứt. Tuy nhiên, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L chưa thực hiện nghĩa vụ chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Kim H là vi phạm nghĩa vụ đối với người lao động nên Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L phải có trách nhiệm làm thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Kim H. Tại công văn số 1276/BHXH-THU ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bảo hiểm xã hội quận B xác định: “Ngày 30 tháng 10 năm 2017 Công ty L đã thực hiện trích đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN đến hết tháng 9 năm 2017. Vậy, công ty L đã đủ điều kiện chốt sổ BHXH cho lao động đã nghỉ việc là bà Lê Thị Kim H số sổ 7913185857”. Do đó, cần xác định ngày chốt sổ bảo hiểm xã hội là ngày mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Lê Thị Kim H là ngày 20 tháng 3 năm
4
2017. Vì vậy, bà Lê Thị Kim H yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L chốt sổ Bảo hiểm xã hội đến hết tháng 3 năm 2017 là có cơ sở chấp nhận.
Xét, yêu cầu trả bản chính sổ bảo hiểm xã hội: Bà Lê Thị Kim H cho rằng hiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L đang giữ sổ bảo hiểm xã hội và chưa làm thủ tục trả sổ bảo hiểm xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy khi bà Lê Thị Kim H không còn làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L thì bà Lê Thị Kim H cần nhận sổ bảo hiểm xã hội để nộp tại nơi làm việc mới cũng như làm các thủ tục liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L thừa nhận đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Kim H đến hết tháng 3 năm 2017. Tại khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động: “Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, tại công văn số 1276/BHXH-THU ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bảo hiểm xã hội quận B xác nhận hiện không giữ sổ bảo hiểm xã hội của bà Lê Thị Kim H. Như vậy, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L có trách nhiệm trả bản chính sổ Bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Kim H.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim H.
Án phí lao động sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim H được miễn nộp. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 2 Điều 71, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 15, khoản 1 Điều 16, điểm b khoản 1 Điều 22, khoản 3 Điều 36, khoản 3 Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012;
Khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim H.
1.1 Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Lê Thị Kim H đến hết tháng 3 năm 2017.
5
1.2 Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L trả bản chính sổ bảo hiểm xã hội, số 7913185857 cho bà Lê Thị Kim H.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim H.
2.1 Không yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L thanh toán tiền lương từ ngày 01 tháng 3 năm 2017 đến ngày 20 tháng 3 năm 2017 với số tiền 4.300.000 (bốn triệu ba trăm nghìn) đồng.
2.2 Không yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L bồi thường tiền bảo hiểm thất nghiệp do chậm trễ chốt sổ bảo hiểm xã hội: 6.300.000 (sáu triệu ba trăm nghìn) đồng.
3. Về án phí lao động sơ thẩm:
3.1 Bà Lê Thị Kim H được miễn nộp.
3.2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Lê Thị Kim H và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ và Vận chuyển quốc tế L được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. 6 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Tuấn Nhu |