vanban.org

Bản án 83/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Lê Thị Ngọc H 2 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2017. Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Ngọc H phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 - phạm tội tàng trữ vận chuyển…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 83/2017/HSST
Ngày 16-6-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lục Kim Thanh

2. Ông Huỳnh Nguyễn Hải Triều

Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Hƣơng Giang, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 16 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2017/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 78/2017/HSST-QĐ ngày 05/6/2017 đối với bị cáo:

Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1996; hộ khẩu trƣờng trú: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Phòng số 10, nhà trọ bà Nguyễn Thị Kim H thuộc tổ 11, khu phố 3, phƣờng T, thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Lê Văn  và bà Nguyễn Hồng L; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 18/01/2017, có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Lê Thị Ngọc H bị Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2017 tại phòng trọ số 10, nhà trọ bà Nguyễn Thị Kim H thuộc tổ 11, khu phố 3, phƣờng T, thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Bến Cát kết hợp với Công an phƣờng T bắt quả tang Lê Thị Ngọc H vừa bán 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Văn T trú tại khu vực 7, phƣờng N, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang và cất giữ 01 (một) bịch nylon miệng kéo dính bên trong có 08 (tám) bịch nylon hàn kín chứa chất màu trắng dạng tinh thể trong một bóp da màu xanh dƣơng nên tiến hành niêm phong thu giữ vật chứng và bắt giữ H.

Quá trình điều tra Lê Thị Ngọc H, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn D khai nhận: H và bạn trai tên Tr (không rõ nhân thân, lai lịch) là đối tƣợng nghiện ma túy và sống chung với nhau tại phòng trọ số 10 nhà trọ bà Nguyễn Thị Kim H từ đầu tháng 01/2017. Khoảng 19 giờ ngày 17/01/2017, Tr đƣa 01 bịch nylon miệng kéo dính bên trong có 09 (chín) bịch ma túy cho H cất giấu vào bóp da màu xanh dƣơng đặt trên bàn trong phòng trọ. Khoảng 12 giờ trƣa ngày 18/01/2017, Tr đi ra ngoài (H không biết Tr đi đâu) và nói với H có đối tƣợng nghiện vào mua ma túy thì bán.

Khoảng 16 giờ ngày 18/01/2017, T rủ D đến phòng trọ của Tr mua ma túy về sử dụng D đồng ý. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai đến phòng trọ của Tr gặp H hỏi mua (01) một bịch ma túy giá 300.000 đồng và đƣa tiền cho H, H lấy một bịch ma túy đƣa cho T, khi T vừa cất bịch ma túy vào túi quần phía trƣớc bên phải và H cất số ma túy còn lại cùng 300.000 đồng vừa bán ma túy vào bóp da màu xanh dƣơng đặt lên bàn gỗ thì bị lực lƣợng Công an bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 56/MT-PC54 ngày 24/01/2017 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 01 (một) bịch nylon hàn kín (M1) trọng lƣợng 0,0827gam, 07 (bảy) bịch nylon hàn kín (M2-1) trọng lƣợng 1,2759gam, 01 (một) bịch nylon hàn kín (M2-2) trọng lƣợng 0,5804gam đều có Methamphetamine, có hàm lƣợng 70,57% (M1), hàm lƣợng trung bình 62,68% (M2-1, M2-2). Trọng lƣợng Methamphetamine trong 0,0872 gam (M1) là 0,0615 gam và trong 1,8563 gam (M2-1 + M2-2) là 1,1635 gam. Mẫu vật sau giám định đƣợc niêm phong có trọng lƣợng 00 gam (M1); 1,0857 (M2-1); 0,4307 gam (M2-2).

Tại bản Cáo trạng số 67/QĐ-KSĐT ngày 25 tháng 4 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Lê Thị Ngọc H về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc H: Từ 2 (hai) năm đến 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính:

Cơ quan Công an thu giữ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền của bị cáo thu từ việc mua bán trái phép chất ma túy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm c khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

Vật chứng là 02 bì thƣ dán kín số 56/MT-PC54 đƣợc niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng bên trong có 1,5164 gam, có thành phần Methamphetamine là loại độc dƣợc Nhà nƣớc cấm lƣu hành và 01 cái bóp da màu xanh dƣơng sử dụng đựng ma túy là vật chứng không có giá trị, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về xử phạt vi phạm hành chính: Ngày 02/3/2017, Công an thị xã Bến Cát ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38 và 39, xử phạt Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mỗi ngƣời số tiền là 750.00 đồng (bảy trăm năm mƣơi nghìn đồng).

Hành vi của đối tƣợng tên Tr (không rõ lai lịch) mua ma túy đem về nhờ H cất giữ và có ai hỏi mua thì bán, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch của Tr. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ khi nào bắt đƣợc sẽ xử lý sau.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thị Ngọc H khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc Cơ quan điều tra thu giữ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 18/01/2017, bị cáo có hành vi bán cho đối tƣợng Nguyễn Văn T 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), khi T vừa cất bịch ma túy vào túi quần và bị cáo cất tiền vào bóp thì bị lực lƣợng Công an bắt quả tang. Tại bản kết luận giám định số 56/MT-PC54 ngày 24/01/2017 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tổng trọng lƣợng vật chứng thu giữ của bị cáo trong 09 (chín) bịch nylon hàn kín là 1.939gam đều có Methamphetamin, có hàm lƣợng 70,57 (M1), hàm lƣợng trung bình 62,68% (M2-1, M2-2).

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thị Ngọc H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 nhƣ kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma tuý là loại độc dƣợc gây nghiện do Nhà nƣớc độc quyền quản lý. Nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt trái phép. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc, làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội. Gây nguy hại cho bản thân, nhiều ngƣời khác và còn tiếp tay cho hành động phi pháp lớn của xã hội nên cần xử lý nghiêm.

Đánh giá mục đích, động cơ phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự: Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật, muốn hƣởng thụ nhƣng lƣời lao động bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và quyết định hình phạt ở mức khởi điểm, cách ly bị cáo một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành ngƣời công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung.

Về thu lợi bất chính: Bị cáo bán một bịch ma túy và đƣợc hƣởng lợi số tiền 300.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tiền thu lợi bất chính nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nƣớc.

Về vật chứng: 02 bì thƣ dán kín số 56/MT-PC54 đƣợc niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng bên trong có 1,5164 gam, có thành phần Methamphetamine là loại độc dƣợc Nhà nƣớc cấm lƣu hành và 01 cái bóp da màu xanh dƣơng sử dụng đựng ma túy là vật chứng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác là phù hợp có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi của đối tƣợng tên Tr (không rõ lai lịch) mua ma túy đem về nhờ H cất giữ và có ai hỏi mua thì bán, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch của Tr. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ khi nào bắt đƣợc sẽ xử lý sau.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Lê Thị Ngọc H 2 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2017.

2. Về xử lý vật chứng và thu lợi bất chính: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Buộc bị cáo Lê Thị Ngọc H phải nộp lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nƣớc và đã đƣợc nộp vào Tài khoản số 3949.0.1046035 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B tại Kho bạc Nhà nƣớc thị xã B vào ngày 20 tháng 4 năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy 02 bì thƣ dán kín số 56/MT-PC54 đƣợc niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng bên trong có 1,5164gam, có thành phần Methamphetamine và 01 cái bóp da màu xanh dƣơng.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/4/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) .

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ