- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2017/HSST Ngày: 28-12-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Quân;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Việt Long;
2. Ông Chu Quang Liêm.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Vƣơng Đình Thi – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2017/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Đặng Đình C, sinh năm 1991 tại huyện L, tỉnh Hải Dƣơng; trú tại: Thôn Kh, xã H, huyện L, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Đình V và bà Nguyễn Thị S; chƣa có vợ con; tiền án: Không.
Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 06/01/2016 Trƣởng công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mức phạt 1.500.000đ (C chƣa thi hành); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2017 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương). Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau: Hồi 13 giờ 20 phút ngày 21/10/2017, tại trục đƣờng thôn X, xã Ch, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng, lực lƣợng Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang thu giữ tại tay phải bị cáo Đặng Đình C đang cầm 01 gói giấy màu trắng-đỏ, kích thƣớc (2,5x1)cm, bên trong có chất bột màu trắng, thu giữ trong túi quần của bị cáo 02 bơm kim tiêm, 02 ống nƣớc cất chƣa sử dụng; quản lý 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 34M6-0048. Bị cáo C khai chất bột màu trắng trong gói giấy là chất ma túy Hêrôin, bị cáo cất giấu để sử dụng.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo nghiện chất ma túy, sáng ngày 21/10/2017, Nguyễn Văn B ở thôn T, xã H, huyện L (là bạn của bị cáo) rủ bị cáo sang huyện K chơi, 13 giờ 20 phút cùng ngày B điều khiển xe mô tô biển số 34M6 – 00… chở C ngồi sau đi trên đƣờng thôn X, xã Ch, huyện K thì bị lực lƣợng Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang thu giữ số ma túy trên. Bị cáo khai, chất ma túy Hêrôin trong gói giấy Công an thu giữ là của Nguyễn Văn B đƣa cho bị cáo để sử dụng, song bị cáo không có căn cứ chứng minh.
Tại Kết luận giám định số 426/KLGĐ-PC54 ngày 23/10/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng ghi thu của Đặng Đình C gửi đến giám định có trọng lƣợng là 0,166g (Không phẩy một trăm sáu mƣơi sáu gam), là loại Hêrôin.
Tại Cáo trạng số 79/VKS-HS ngày 30/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng truy tố Đặng Đình C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ giữ nguyên Quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Đặng Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội khoá XIV; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. Xử phạt Đặng Đình C từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của BLHS; các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tịch thu tiêu huỷ: 0,103g Hêrôin do cơ quan giám định hoàn lại; 02 bơm kim tiêm; 02 ống nƣớc cất; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và lời luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa. Nhƣ vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 21/10/2017, tại đƣờng thôn X, xã Ch, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng bị cáo Đặng Đình C có hành vi cất giấu trái phép 0,166g (Không phẩy một trăm sáu mƣơi sáu gam) chất ma túy Hêrôin, mục đích để sử dụng đã bị lực lƣợng Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của C đang cầm vào hồi 13 giờ 20 phút ngày 21/10/2017.
Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi cất giấu chất ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật, song với mục đích để sử dụng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, chất ma túy bị cáo cất giấu trái phép là Hêrôin, có khối lƣợng 0,166g (Không phẩy, một trăm sáu mƣơi sáu gam) nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" quy định tại khoản 1 Điều 194 của BLHS. Nhƣ vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma tuý của Nhà nƣớc; bản thân bị cáo nghiện chất ma túy, năm 2011 và năm 2015 đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; ngày 06/01/2016 lại bị Trƣởng Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Trộm cắp tài sản", bị cáo không lấy đó làm bài học để tự tu dƣỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên HĐXX thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành ngƣời tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của BLHS; theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015)… thì đây là quy định có lợi nên HĐXX sẽ áp dụng tinh thần của BLHS năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị bắt giữ, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng nào.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo nghiện chất ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Khối lƣợng chất ma tuý Hêrôin bị cáo tàng trữ trái phép, sau khi giám định còn lại 0,103g là vật cấm lƣu hành nay tịch thu tiêu hủy; 02 bơm kim tiêm, 02 ống nƣớc cất bị cáo chuẩn bị để làm phƣơng tiện sử dụng trái phép chất ma túy hiện không còn giá trị nên tịch thu tiêu huỷ; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 34M6-00… mà Nguyễn Văn B chở bị cáo đến xã Ch, huyện K là tài sản của B, Nguyễn Văn B không biết hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho Nguyễn Văn B là đúng pháp luật.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, kết quả điều tra và xét xử công khai tại phiên tòa không chứng minh đƣợc Nguyễn Văn B đƣa ma túy cho bị cáo nhƣ bị cáo khai nên không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Đặng Đình C 14 (Mƣời bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 21/10/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của BLHS; các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của BLTTHS. Tịch thu và tiêu huỷ: 0,103 g (Không phẩy một trăm linh ba gam) Hêrôin do cơ quan giám định hoàn lại; 02 bơm kim tiêm; 02 ống nƣớc cất (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 14/12/2017 ).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về… án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Đặng Đình C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/12/2017./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lƣu: V.Phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Quốc Quân |