vanban.org

Bản án 83/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 27/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2017. 3/ Xử l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƢ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2017/HS-ST
Ngày: 27-10-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhiễu.

2. Ông Phạm Đức Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2017/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2017/HSST-QĐ ngày 13/10/2017 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc T;

Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1980

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông Vũ Sơn H (đã chết) và bà Vũ Thị T (đã chết) có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1982 (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Bản án số 15/HSST ngày 27/3/1998 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/4/1997. T đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành án dân sự.

+ Bản án số 61/HSST ngày 08/8/2000 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2000. T đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành án dân sự. (đã được xóa án tích theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội)

+ Bản án số 63/HSST ngày 03/7/2002 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 22/2/2002 T đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành án dân sự. (đã được xóa án tích theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội)

+ Bản án số 83/HSST ngày 17/7/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2008. T đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành án dân sự.

+ Bản án số 101/2012/HSPT ngày 07/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2012. T đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành án dân sự (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 81/GCN ngày 24/01/2015 của Trại giam Thanh Lâm, Biên bản xác minh hồi 09 giờ 30 phút ngày 01/8/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình)

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/7/2017 đến ngày 02/8/2017 chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo trích xuất, có mặt.

- Ngƣời làm chứng:

1. Anh Cao Xuân Q, sinh năm 1977.

2. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987.

Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 27/7/2017, tại khu vực đường 454 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Vũ Thư đưa Vũ Ngọc T về Uỷ ban nhân dân xã T để kiểm tra. Tại Ủy ban nhân dân xã T có sự chứng kiến của Công an xã T và những người làm chứng là anh Cao Xuân Q, sinh năm 1977 và anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987 đều trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra thu giữ bên trong mũ lưỡi trai bằng vải, màu đen T đang đội trên đầu 01 gói Heroine có trọng lượng 0,3154 gam, được gói bằng giấy tráng kim màu trắng và quản lý của T 01 xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA, màu đen, không có biển số đăng ký .

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do bị mắc nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27/7/2017, bị cáo điều khiển xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA đi từ nhà đến khu vực trước cửa khách sạn K, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình tìm mua Heroine (Hêrôin) để sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua 01 gói Heroine của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ với giá 100.000 đồng, bị cáo bỏ gói Heroine vừa mua được vào trong mũ lưỡi trai bằng vải, màu đen đội lên đầu rồi điều khiển xe mô tô để tìm chỗ sử dụng, khi đi đến thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Lời khai của người làm chứng là anh Cao Xuân Q, sinh năm 1977 và anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987 đều trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập vào 13 giờ 30 phút ngày 27/7/2017, Biên bản niêm phong vật chứng lập hồi 14 giờ 45 phút ngày 27/7/2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Kết luận giám định số 328/KLGĐ- PC 54 ngày 27/7/2017, của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “01 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục thu của Vũ Ngọc T gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có trọng lượng 0,3154 gam (Không phẩy ba nghìn một trăm năm mươi bốn gam). Heroine STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ”

Bản Cáo trạng số 81/KSĐT ngày 02 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư truy tố bị cáo Vũ Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm truy tố và: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 579 Bộ luật dân sự để: Tịch thu tiêu hủy 01 phòng bị niêm phong số 328/KLGĐ- PC 54 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình, 01 mũ lưỡi trai; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA, không có biển số đăng ký. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên là các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không ai khiếu nại hay có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 27/7/2017, tại đường 454 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, Vũ Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,3154 gam ma túy, loại Heroine trong mũ lưỡi trai bằng vải, màu đen T đang đội trên đầu, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo đã biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo vì vậy cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: So với quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 thì quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có lợi hơn cho người phạm tội nên cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 579 Bộ luật Dân sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,2936 gam ma túy, loại Hêrôin thu của bị cáo được hoàn lại sau giám định, 01 mũ lưỡi trai màu đen.

- Đối với xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA, màu đen, không có biển số đăng ký, Vũ Ngọc T khai mua của một người đàn ông không quen biết với giá 750.000 đồng vào khoảng ngày 25/7/2017. Khi mua, xe không có biển số đăng ký, giấy đăng ký xe. Qúa trình điều tra xác định xe mô tô trên đã bị tẩy xóa số máy, chỉ xác định được số khung là RNKWCH1HY6X152555 và không có trong cơ sơ dữ liệu xe máy vật chứng, không xác định được chủ sở hữu nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được tên và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2017.

3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 579 Bộ luật Dân sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,2936 gam ma túy, loại Hêrôin thu của bị cáo được hoàn lại sau giám định và bao gói trong bao niêm phong số 328/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 01 mũ lưỡi trai màu đen.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước của Vũ Ngọc T 01 môtô nhãn hiệu LISOHAKA không có biển số đăng ký, số khung là RNKWCH1HY6X152555.

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Vũ Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/10/2017.

Cỡ chữ